Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục … kết cấu bố cục của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực thi chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. 8 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về chính sách Theo từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary), “chính sách” là “một đƣờng lối hành động đƣợc thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách …” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ.
Chính sách đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.457] Theo Từ điển Tiếng Việt “Chính sách là sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một số mục đích nhất định dựa vào đƣờng lối chính trị chung và thực tế mà nhà nƣớc đề ra” [25, Tr. Theo Giáo trình hoạch định và Phân tích chính sách công của Học viện Hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2008 [19, Tr.14], khái niệm về chính sách: là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tƣợng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Qua sự khái quát, phân tích các khía cạnh cơ bản về khái niệm chính sách, luận văn đƣa ra cách hiểu về chính sách nhƣ sau: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó củachính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Khái niệm về chính sách công “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nƣớc đƣợc thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hƣớng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công trong xã hội” [18, Tr. Theo tác giả có thể hiểu: chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành tác động lên đối tượng để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Theo quan niệm về chính sách công nêu trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về chính sách công sau đây: Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nƣớc ban hành và nội dung của các chính sách đƣợc thể hiện trong các văn bản quyết định của Nhà nƣớc.
Thứ hai, chính sách công bao gồm một tập hợp các quyết định đƣợc ban hành qua một giai đoạn dài và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách. Chính sách công luôn không đƣợc thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hƣớng đƣợc xác định dƣới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền với nhau, giúp chúng ta nhận thức đƣợc chính sách là gì. Thứ ba, chính sách công hƣớng tới giải quyết vấn đề công và tác động đến lợi ích của một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Thứ tƣ, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách.
Thứ năm, mục tiêu của chính sách công là tạo ra những thay đổi và nhằm đạt đƣợc các mục tiêu phát triển của đất nƣớc hoặc địa phƣơng. Thứ sáu, các chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, bởi vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với các quyết định trƣớc đó, hoặc do có những thay đổi trong định hƣớng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm 10 Luan van về thực thi chính sách công đƣợc phản hồi vào quá trình ra quyết định; và do định nghĩa về các vấn đề chính sách công cũng thay đổi qua thời gian. Cuối cùng, về cơ bản chính sách công đƣợc xem là đầu ra của quá trình quản lý nhà nƣớc, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc, và của cả xã hội. Khái niệm về thực thi chính sách công Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành.
Tuy nhiên, thực thi đƣợc sử dụng trong luận văn này liên quan đến giai đoạn thứ tƣ của chu trình chính sách công. Theo tác giả có thể hiều: Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công. Thực thi chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định.Thực hiện chính sách là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đƣa chính sách vào đời sống. Khái niệm chính sách ưu đãi Theo Từ điển Tiếng Việt “Ƣu đãi là dành cho những điều kiện, quyền lợi đặc biệt hơn, so với những đối tƣợng khác.1054] Ƣu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của nhà nƣớc và xã hội nhằm ghi nhận, đền đáp công lao của các tổ chức, cá nhân có cống hiến, hy sinh đặc biệt.
Mục tiêu của ƣu đãi xã hội là ghi nhận, đầu tƣ nhằm tái sản xuất ra những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc thể hiện ở việc: 11 Luan van - Ghi nhận và tri ân những cá nhân, tập thể có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng xã hội. - Tạo ra công bằng cho xã hội (ngƣời cống hiến đƣợc hƣởng đúng theo những gì mình đóng góp). - Tái sản xuất ra những giá trị tinh thần cao đẹp, giữ gìn truyền thống cao đẹp của dân tộc. - Bảo đảm ổn định cho thể chế đất nƣớc, từ chỗ có chính sách thích hợp mọi ngƣời mới có thể an tâm về gia đình của mình, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp của đất nƣớc.
Thực hiện tốt ƣu đãi xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và tiến tới việc xây dựng một xã hội phồn thịnh, ấm no, hạnh phúc. Trợ cấp ƣu đãi xã hội là khoản tiền do Nhà nƣớc cấp thƣờng xuyên hoặc một lần đối với ngƣời có công với đất nƣớc theo quy định của pháp luật về ƣu đãi xã hội. Trợ cấp ƣu đãi xã hội có nhiều loại khác nhau, cấp cho từng diện đối tƣợng hƣởng ƣu đãi xã hội dựa trên những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể.Khái niệm người có công với cách mạng Theo nghĩa rộng: Ngƣời có công là những ngƣời đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nƣớc. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ lợi ích của đất nƣớc, dân tộc.
Ngƣời có công gồm những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc. Theo nghĩa hẹp: Khái niệm ngƣời có công để chỉ những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ … có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trƣớc Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đƣợc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. 12 Luan van Theo quan niệm của tác giả, người có công với cách mạng là đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Được hiểu là người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác … đã có cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.
Khái niệm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Theo Thuật ngữ Lao động Xã hội thì: Chính sách ngƣời có công là những quy định chung của Nhà nƣớc bao gồm mục tiêu, phƣơng hƣớng, giải pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của ngƣời có công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với ngƣời có công. Nghiên cứu về chính sách ƣu đãi xã hội đối với ngƣời có công ở Việt Nam, đã có quan điểm cho rằng: Chính sách đối với ngƣời có công là đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc căn cứ vào nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ, dựa vào sự phát triển nền kinh tế - xã hội, nhằm mục tiêu ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của những ngƣời có công, tạo mọi điều kiện, khả năng, đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với ngƣời có công. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng, Nhà nƣớc ta đã rất chú trọng đến ƣu đãi xã hội thông qua việc ban hành nhiều văn bản, chính sách quy định việc giúp đỡ thƣơng binh, bệnh binh, giải quyết những nhu cầu bức xúc khi chạy chữa vết thƣơng, bệnh tật và các nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để thƣơng binh, bệnh binh về làng có cuộc sống ổn định.
Đến nay, ƣu đãi xã hội trở thành một nhiệm vụ kinh tế - xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nƣớc ta, nhiều phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nƣớc 13 Luan van nhờ nguồn” đƣợc cộng đồng xã hội phát động và phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nƣớc với nhiều thành quả hết sức ấn tƣợng, đáng khích lệ, tôn vinh.