Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1. Chính sách tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ 1. Khái niệm chính sách tiền tệ Trong thực tế, có nhiều loại chính sách kinh tế và những chính sách này được phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau, chẳng hạn như: vi mô, vĩ mô; ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;… Theo các quan điểm phổ biến hiện nay thì chính sách tiền tệ thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô ngắn hạn.
Nếu các chính sách kinh tế là công cụ của Nhà nước để điều tiết và hướng nền kinh tế tới mục tiêu mong muốn, chúng thường bị chi phối bởi 3 nhóm yếu tố: chủ thể ban hành và thực thi chính sách kinh tế là Nhà nước, nền kinh tế mà trực tiếp là những bộ phận, những chức năng của nền kinh tế trực tiếp là đối tượng điều chỉnh của chính sách …và, môi trường thực thi chính sách; thì, chính sách tiền tệ cũng không nằm ngoài những cái chung đó. Tuy nhiên, căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế và giác độ nghiên cứu mà luận văn đề cập thì chính sách tiền tệ còn được tiếp cận theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. - Theo nghĩa hẹp, CSTT là chính sách bảo đảm việc cung ứng mức cung tiền (tổng phương tiện thanh toán) trong từng thời kỳ (thường là một năm) phù hợp với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế hay các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác. - Theo nghĩa rộng, CSTT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, là hệ thống các giải pháp và công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước đối với thị trường tiền tệ và tín dụng do 7 NHTW khởi thảo và thực thi nhằm ổn định giá trị đồng tiền, hướng nền kinh tế vào những mục tiêu mong muốn [18, tr.
Trong tác phẩm “Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính” F. Mishkin đã đưa ra quan niệm CSTT theo nghĩa rộng: CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái [17, tr. Ở Việt Nam, Điều 2 Luật NHNN Việt Nam ban hành năm 1997 đã nêu rõ: CSTT là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống của nhân dân [27]. Từ đó, có thể thấy CSTT có các đặc trưng chủ yếu sau đây: Thứ nhất, CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành các chính sách kinh tế.
Như chúng ta đã biết, trong tổng thể các chính sách kinh tế của một quốc gia, mỗi chính sách đề có vị trí và vai trò riêng của nó. Trong đó, CSTT luôn được xem là một chính sách trung tâm, gắn kết nhiều chính sách lại với nhau. Bởi lẽ, các nền kinh tế hiện đại đều là nền kinh tế tiền tệ, nói cách khác - những nền kinh tế này đã được tiền tệ hóa cao độ (tính theo chỉ số hóa tiền tệ M2/GDP). Vì vậy, ở các nền kinh tế này các quan hệ kinh tế chủ yếu phải dựa trên, xoay quanh và được phản ánh bởi các quan hệ tiền tệ, tiền tệ đã xâm nhập và trở thành một yếu tố hết sức quan trọng trong nền kinh tế và do vậy CSTT là chính sách kinh tế trung tâm và có vai trò ngày càng quan trọng.
Thứ hai, CSTT thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô - do đó, nó không có mục đích tự thân mà phải hướng tới phục vụ các mục tiêu của nền kinh tế Muốn thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần phải thực thi nhiều chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có CSTT. Khác với các chính sách 8 kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách kinh tế đối ngoại… thì CSTT chủ yếu chỉ tác động ở thị trường tiền tệ, và qua đó tác động đến đến mặt cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng đến giá cả, đầu tư, việc làm, sản lượng … Thứ ba, mặc dù CSTT chỉ chủ yếu tác động và làm thay đổi những cân bằng ngắn hạn, vừa có tác dụng điều chỉnh ổn định kinh tế, vừa hướng sự cân bằng ngắn hạn của nền kinh tế vận động xoay quanh giới hạn khả năng sản xuất - tức là, đạt được mức hiệu quả trên cơ sở khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế, do đó, góp phần làm giảm tính chu kỳ của nền kinh tế, nhưng nó còn ảnh hưởng mặc dù gián tiếp nhưng rất quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế ở cả trung và dài hạn. Chẳng hạn như, bằng việc thay đổi mức lãi suất, sử dụng định chế mức lãi suất ưu đãi mà CSTT góp phần khuyến khích đầu tư mới, huy động các nguồn vốn, tăng tiết kiệm, tích lũy và do đó tăng đầu tư đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ tư, NHTW là cơ quan chức năng của Chính phủ, trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, ban hành và thực thi CSTT.
Việc thực hiện chức năng này của NHNN ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào mô hình tổ chức bộ máy của quốc gia đó. Ở Việt nam, NHNN là thành viên của chính phủ, trực tiếp chịu sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, tính độc lập rất thấp nên ít tính linh hoạt và điều đó ảnh hưởng không ít đến hiệu quả thực thi CSTT. Và điều ngược lại có thể xảy ra đối với các nền kinh tế mà NHNN có tính độc lập rất cao. Quan niệm thực thi chính sách tiền tệ Thứ nhất, thực thi CSTT phải mang tính hệ thống.
Vì CSTT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính của quốc gia và trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động với nhau. Do vậy một CSTT hữu hiệu đòi hỏi phải được thiết lập và vận hành trong mối quan hệ với các chính sách khác, chứ không nên tự coi mình là một yếu tố độc lập tuyệt đối mặc dù bản thân CSTT có vai trò cực kỳ quan trọng. 9 Vì vậy, việc sử dụng và thực thi CSTT không thể độc lập, tách rời với những chính sách kinh tế vĩ mô khác mà nó phải được đặt trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất - Đó là một tất yếu kinh tế và mang tính phổ biến. Thứ hai, thực thi CSTT phải đảm bảo tính đồng bộ và nhất quán.
Tính đồng bộ và nhất quán luôn được đặt lên hàng đầu trong quá trình thực thi CSTT. Thứ ba, thực thi CSTT phải linh hoạt, chủ động, hiệu quả nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành cán cân thanh toán quốc tế không để bị thâm hụt. Nhưng cũng phải có nhiều phương án dự phòng để tính toán trong trường hợp có diễn biến mới trên thị trường quốc tế. Nội dung cơ bản và hình thức thực thi chính sách tiền tệ CSTT là một thành tố quan trọng của hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô, vì vậy việc xây dựng và thực thi CSTT phải gắn với những mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế vĩ mô trọng yếu - cụ thể, phục vụ đắc lực quá trình đổi mới, ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế cả về ngắn hạn và dài hạn.
Theo như giới hạn nghiên cứu đã nêu, nội hàm của vấn đề này được trình bày ở một số hoạt động thực thi cơ bản sau: 1. Cung ứng và điều tiết tổng phương tiện thanh toán trong lưu thông * Lượng tiền cung ứng (Tổng phương tiện thanh toán - MS) Theo lý thuyết về số nhân tiền ta có: s+1 Trong đó: s là tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi MS = xH ra là tỷ lệ dự trữ thực tế tiền gửi s + ra H là tiền cơ sở (cơ số tiền tệ) H = U + Ra U là tiền mặt trong lưu thông Ra là tiền mặt dự trữ trong các ngân hàng Từ đó, có thể thấy, những thay đổi trong 3 biến (H, r a và s) làm cho cung ứng tiền tệ thay đổi như thế nào: 10 Thứ nhất, cung ứng tiền tệ tỷ lệ thuận với cơ số tiền. Vì vậy, sự gia tăng cơ số tiền làm tăng cung ứng tiền tệ theo cùng một tỷ lệ. Thứ hai, tỷ lệ dự trữ trên tiền gửi càng thấp, thì ngân hàng càng cho vay nhiều và tạo thêm nhiều tiền từ mỗi VNĐ dự trữ, tức càng được nhiều tiền.
Bởi vậy, sự cắt giảm tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tăng lên. Thứ ba, tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi (s) càng thấp, công chúng càng giữ ít VNĐ, các NHTM càng giữ nhiều VNĐ thì càng tạo ra được nhiều tiền. Vì vậy, sự cắt giảm tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi làm số nhân tiền và cung ứng tiền tệ tăng lên. Trên thực tế, tốc độ lưu thông tiền tệ còn bị chi phối bởi: tốc độ chu chuyển vật tư hàng hóa, lòng tin của dân cư vào giá trị đồng tiền, sự tiên liệu của dân cư vào thời cơ và vận hội làm ăn sinh lời, khuynh hướng chi tiêu của dân chúng, chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước, kỳ vọng của các doanh nhân, trình độ kỹ thuật và khả năng tổ chức thanh toán của Ngân hàng.
NHTW thông qua các công cụ của mình (thị trường mở, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu) để khống chế sao cho khối lượng cung ứng tiền tệ trong một giai đoạn nào đó phải cân bằng với mức tăng của GNPn và vòng quay tiền tệ trong cùng thời kỳ đó.Mác cũng cho rằng: số lượng các phương tiện lưu thông là do tổng giá trị của hàng hóa lưu thông và tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ quy định. Tức là khối lượng tiền tệ lưu thông thực tế (Kt) phải bằng khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông (Kc), tức Kt = Kc. Trong đó, Kc là tổng giá cả hàng hóa (H) chia cho vòng quay của đồng tiền (V) [41, tr.