Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường thực thi chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số 1. Các khái niệm - Khái niệm giảm nghèo Giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết. - Khái niệm vùng đồng bào dân tộc thiểu số Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính sách giảm nghèo là tất cả các giải pháp chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.2 - Khái niệm Chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách để giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Vai trò của chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính sách giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao mức thu nhập và mức sống của người nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 30%- 32% vào năm 2020, góp phần đạt được mục tiêu Phát triển chung cho tỉnh Quảng Nam. Trong những năm qua, trên địa bàn huyện Tây Giang đã sử dụng những nguồn chính sách hỗ trợ có được một cách hiệu quả vào công tác nâng cao mức sống người dân, trình độ dân trí, tuổi thọ, góp phần tới mục tiêu công bằng xã hội trong tiến trình phát triển bền vững của cả nước. Về mặt lý thuyết, mỗi chính sách XĐGN đều nhằm cụ thể những mục tiêu riêng, hỗ trợ một khu vực riêng, một đối tượng hay nhóm nhỏ đối tượng nào đó, tuy nhiên, đều có những điểm chung là giải quyết nguyên nhân dẫn đến gia tăng đói nghèo, cải thiện môi trường, trợ giúp dân thoát nghèo, từ đó giảm tỷ lệ nghèo đói.
Với góc nhìn vĩ mô, chính sách XĐGN thông thường đều xuất phát từ 2 mặt chính để thực hiện. Đó là giải quyết hoàn cảnh đói nghèo và giải quyết nguyên nhân đói nghèo. Chính sách XĐGN, bất kể nhằm mục đích giải quyết nguyên nhân nghèo đói, hay cải thiện môi trường sống người nghèo thì dưới góc nhìn vĩ mô sẽ phải giảm được tỷ lệ và số lượng đói nghèo, dưới góc độ vi mô có thể sẽ tồn tại sự khác biệt về hiệu quả. Nội dung của chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Quan điểm, định hướng, mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững Đảng ta luôn có chủ trương nhất quán về xoá đói, giảm nghèo, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến XII đều khẳng định: cùng với quan điểm đổi mới toàn diện, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới, giảm sự phân hoá giàu nghèo. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chú trọng phát triển nông 9 nghiệp, nông thôn và phát triển các dịch vụ cơ bản. Tập trung nguồn lực để xoá cơ bản các hộ đói, giảm nhanh các hộ nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện sự nghiệp Đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2001 - 2010; cùng với những chủ trương, đường lối phát triển chung của đất nước, nhất là từ sau khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển KT-XH miền núi (tháng 11-1989), Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, các địa phương đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hoá thành các chính sách cụ thế, các chương trình mục tiêu phát triển KT-XH, tăng cường củng cố đoàn kết các dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững quốc phòng, an ninh, v.
Chiến lược phát triển KT-XH năm 2011-2020, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011 xác định:. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của đồng bào các DTTS. Đại hội cũng đề ra các giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là: Tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS. Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng ĐB.
Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền vững. Về phía Nhà nước đã có nhiều chính sách lớn tập trung đầu tư phát triển cho vùng đồng bào DTTS như chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, giai đoạn 1998-2002 (Chương trình 133 ; CTMTQG xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005; giai đoạn 2006 – 2010; trong đó, 2 trụ cột chính của chương trình giảm nghèo là: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình 10 phát triển KT-XH các xã ĐB vùng đồng bào DTTS (Chương trình 135 - II). Và gần đây, Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Đi kèm theo đó là những chính sách, giải pháp thực hiện cụ thể như chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt (Chương trình 134; sau này là Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009); hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (Chương trình 167); chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn (Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/08/2009); chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS ĐB giai đoạn 2012 – 2015 (Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012); hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã ĐB , xã an toàn khu, các thôn, bản ĐB (Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/3/2013); thực hiện ĐCĐC cho đồng bào DTTS đến năm 2015 (Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 và Chính sách đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản ĐB (số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013).
Phát triển KT-XH toàn diện, bền vững; đẩy mạnh giảm nghèo vùng DTTS, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc trong huyện; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thông các dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; củng cố hệ thống chính trị cơ sở; giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng. Nội dung chính sách giảm nghèo (1). Chính sách trợ giúp pháp lý Đối tượng được thụ hưởng và địa bàn áp dụng chính sách trợ giúp pháp lý bao gồm: Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người được trợ giúp pháp lý khác sinh sống tại các Huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP; các xã nghèo không thuộc các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, gồm: xã 11 đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; thôn bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi không thuộc các các xã nghèo qui định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 2 Quyết định 32/2016/QĐ-TTg. Các hoạt động hỗ trợ pháp lý bao gồm: hỗ trợ thực hiện vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình; hỗ trợ học phí cho viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đăch biệt khó khăn tham gia khóa đào tạo luật sư và cam kết làm việc ít nhất 02 năm tại địa phương sau khi đi học về, tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn đẩy mạnh công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn thông qua việc thiết lập hệ thông đường dây nóng trợ giúp pháp lý, tổ chức các đợt truyền thông ở cơ sở, xây dựng chuyên trang, chuyên mục trợ giúp pháp lý. Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ như sau: Hỗ trợ thực hiện vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phúc tạp hoặc điển hình theo Nghị định 80/2015/NĐ-CP; Hỗ trợ học phí cho viên chức theo mức học phí hiện hành của cơ sở đào tạo và tối đa là 02 người/trung tâm/năm; tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý: 80.000 đồng/lớp/trung tâm/năm. Với hoạt động truyển thông hỗ trợ 20 triệu đồng/trung tâm thiết lập đường dây nóng; hỗ trợ 2 triệu đồng/xã nghèo, thôn, bản, đặc biệt khó khăn/01 lần/năm để thực hiện các đợt truyền thông về trợ giúp pháp lý cơ sở; hỗ trợ 500.000 đồng/01 số/6 tháng/xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn; chi phí phát thanh: 500.000 đồng/xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn/quý (06 lần/quý). Tổ chức các đợt truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở (chi cho báo cáo viên, chi công tác phí,.000 đồng/xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn/01lần/năm.