Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH CẤP XÃ 1. Người hoạt động không chuyên trách cấp xã 1. Khái niệm Cho đến nay, quy định của pháp luật, cơ sở lý luận chưa có cách hiểu thống nhất, rõ ràng về khái niệm người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 và Nghị định số 33/2023/NĐ-CP đã sử dụng thuật ngữ “người hoạt động không chuyên trách cấp xã”, nhưng chưa đưa vào phần giải thích từ ngữ để giải thích như từ cán bộ, công chức; cán bộ, công chức cấp xã.
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 34 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP đã giao UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Với sự phân cấp trên, mỗi tỉnh, thành phố sẽ có chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã là không giống nhau. Tùy theo yêu cầu, khối lượng công việc của địa phương mà có các chức danh tương ứng, nhưng nhìn chung, các chức danh người hoạt động không chuyên trách phụ trách những công việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã. Dưới góc độ cách thức đảm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã, khoản 3 Điều 36 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về bầu cử, tuyển chọn người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cụ thể gồm: Các chức danh bầu cử; các chức danh được tuyển chọn thông qua hình thức xét tuyển (riêng đối với chức danh giúp việc cho Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về quân sự).
13 Trong phạm vi nghiên cứu của đề án, học viên khái quát các quy định của pháp luật hiện hành và xây dựng khái niệm người hoạt động không chuyên trách cấp xã như sau: Người hoạt động không chuyên trách cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử hoặc tuyển chọn thông qua hình thức xét tuyển (riêng đối với chức danh giúp việc cho Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về quân sự) đảm nhiệm các chức danh được quy định tại Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã, làm việc trong cơ quan Đảng, UBND, tổ chức chính trị - xã hội cấp xã. Đặc điểm của người hoạt động không chuyên trách cấp xã Căn cứ đặc điểm dân cư, văn hóa, xã hội địa phương; căn cứ quy định của pháp luật hiện hành, đề án xác định một số đặc điểm cơ bản của người hoạt động không chuyên trách cấp xã như sau: - Thứ nhất, người hoạt động không chuyên trách cấp xã thường là người dân địa phương, sinh sống tại địa phương hoặc ở địa phương liền kề. Do đó, họ nắm, hiểu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở địa phương đó. - Thứ hai, đa số người hoạt động không chuyên trách cấp xã có trình độ chuyên môn hạn chế.
Chỉ đến Nghị định số 33/2023/NĐ-CP mới quy định yêu cầu về trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở lên, đồng thời cho thời gian 05 năm để nâng cao trình độ, đảm bảo theo yêu cầu chung về trình độ chuyên môn. - Thứ ba, người hoạt động không chuyên trách cấp xã hưởng phụ cấp theo quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, không hưởng và nâng lương thường xuyên. Mức phụ cấp này được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định trên cơ sở mức khoán phụ cấp theo Nghị định của Chính phủ về quản lý người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Đa số các tỉnh, thành phố quy định mức phụ cấp bằng mức lương bậc 1 (hệ số là 2,34) nếu có bằng cấp chuyên môn.
14 - Thứ tư, người hoạt động không chuyên trách cấp xã thường có tính ổn định nghề nghiệp tương đối thấp. Vì nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã chưa đáp ứng nhu cầu cuộc sống của họ và gia đình nên số lượng người hoạt động không chuyên trách cấp xã thường xuyên có sự biến động. - Thứ năm, người hoạt động không chuyên trách cấp xã ít có cơ hội thăng tiến. Con đường chức nghiệp của người hoạt động không chuyên trách cấp xã thường không rõ ràng, họ vẫn phải thi tuyển nếu muốn trở thành công chức cấp xã.
Yêu cầu đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã Căn cứ khoản 1 Điều 36 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, người hoạt động không chuyên trách cấp xã cần đảm bảo các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kỹ năng, trình độ theo tiêu chuẩn nhất định, cụ thể: - Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: Người hoạt động không chuyên trách cấp xã cần có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Về kỹ năng: Người hoạt động không chuyên trách cấp xã cần có năng lực tổ chức thực hiện và vận động Nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó, người hoạt động không chuyên trách cấp xã phải nắm, hiểu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền rộng rãi trong Nhân dân; phối hợp, giúp cán bộ, công chức cấp xã thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, đảm bảo các lĩnh vực công tác của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã đều có người đảm nhiệm, theo dõi thực hiện. - Về trình độ: Người hoạt động không chuyên trách cấp xã cần có trình độ giáo dục phổ thông - tốt nghiệp Trung học phổ thông; trình độ chuyên môn 15 - tốt nghiệp Trung cấp trở lên.
Đây là một trong những yêu cầu thể hiện quyết tâm nâng cao năng lực chuyên môn của người hoạt động không chuyên trách cấp xã và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh. Chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã 1. Khái niệm Trước khi tìm hiểu về chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã, nội dung đề án cần làm rõ khái niệm chính sách công. Một số học giả định nghĩa về chính sách công như sau: Tác giả Thomas Dye (1972) cho rằng “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [5, tr.
Với định nghĩa này, chúng ta thấy chính sách công thể hiện thái độ ứng xử của nhà nước đối với vấn đề công bất kỳ, mà cụ thể là lựa chọn hành động hoặc không hay động. Tuy nhiên các quyết định của nhà nước thông thường sẽ điều chỉnh một vấn đề công cụ thể mà không có quyết định không điều chỉnh vấn đề công nên khái niệm này chưa phù hợp hoàn toàn với hoạt động của nhà nước. Tác giả William Jenkins (1978) đưa ra định nghĩa “Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [5, tr. Điểm nổi bật trong khái niệm của William Jenkins là đã chỉ ra Nhà nước giải quyết một vấn đề công không phải bằng một quyết định đơn lẻ mà bằng tập hợp các quyết định liên quan với nhau.
Tác giả Nguyễn Hữu Hải (2016) cho rằng “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [5, tr. Đây là khái niệm thể hiện được đặc 16 trưng cơ bản của chính sách công, trong đó, xác định chủ thể xây dựng chính sách công; chính sách công là sản phẩm của hoạt động quản lý (tập hợp các quyết định có liên quan) và là công cụ thực hiện chức năng quản lý của nhà nước (định hướng mục tiêu và cách giải quyết những vấn đề công trong xã hội). Kế thừa những ưu điểm trong các khái niệm trên, đề án tiếp cận với khái niệm như sau: Chính sách công là toàn bộ các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội nhằm thúc đẩy xã hội theo định hướng. Và từ khái niệm chính sách công, khái niệm người hoạt động không chuyên trách cấp xã, đề án khái quát nội dung và xây dựng khái niệm chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã phục vụ nghiên cứu đề tài để triển khai thực hiện đề án: Chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã là toàn bộ các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến người hoạt động không chuyên trách cấp xã nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả làm việc và thu nhập của người hoạt động không chuyên trách cấp xã.
Đặc điểm của chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã a) Chủ thể ban hành, thực thi chính sách Chủ thể ban hành chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã gồm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương (Chính phủ) và cơ quan có thẩm quyền ở địa phương (Hội đồng nhân dân cấp tỉnh). Chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã được quy định tại Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Chủ thể thực thi chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã là UBND cấp huyện, cấp xã. UBND cấp huyện thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra UBND cấp xã trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người 17 hoạt động không chuyên trách cấp xã.
UBND cấp xã thực thực hiện chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã. b) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã hướng đến đối tượng thụ hưởng là người đảm nhiệm các chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã theo quy định tại Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã.