Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách đối với người có công; Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG 1. Khái quát về thực thi chính sách đối với ngƣời có công 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm chính sách, chính sách công Nhà nước có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách công để mưu cầu lợi ích cho xã hội. Hoạt động của nhà nước tác động đến nhiều khu vực và bộ phận nhân dân rộng khắp trên phạm vi quốc gia. Tác động của Nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế hay kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất. Đồng thời trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp, vì thế mà quan niệm về chính sách công cũng được tiếp cận từ các góc độ khác nhau.
Có thể nói, chính sách là những hành động có tính toán của Nhà nước để đối phó với đối tượng theo hướng đồng tình, phản đối hoặc xuất phát từ ý chí của Nhà nước trong hoạt động chính sách xã hội. Sự hiện diện của chính sách trong đời sống xã hội cho thấy đây là một công cụ quản lý có liên quan mật thiết đến sự vận động có định hướng của cả hệ thống. Chính sách vừa củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước vừa thể hiện sự thống nhất giữa nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân với ý chí quản lý của Nhà nước (thể hiện qua mục tiêu chính sách). Từ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân cho thấy, nếu chế độ thay đổi tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách.
Điều đó cũng có nghĩa là chính sách mang tính chính trị đậm nét. 8 - Theo Từ điển tiếng Việt: + Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một số mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà nhà nước đó đề ra (chính sách kinh tế, chính sách hòa bình). - Theo Từ điển Hành chính: [25, tr55-56]. + Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế.
+ Chính sách công là chiến lược và kế hoạch cụ thể để giải quyết những vấn đề của quốc gia hay những vấn đề chung của xã hội. - Theo Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công của Học viện Hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, năm 2008 [18, tr14]. + Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. + Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Khái niệm trên vừa bao hàm những đặc trưng của chính sách công là do Nhà nước ban hành để tác động đến các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định vừa thể hiện được bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Định hướng đó được thể hiện qua thái độ đối xử với những vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh trong đời sống cộng đồng. Để đạt được mục tiêu phát triển, trước hết chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải hành động thật sự bằng chính sách. Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước tác động có ý thức đến đời sống của nhân dân theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của 9 nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. Điều kiện tồn tại của một chính sách là tổng hòa những hành động tích cực theo định hướng chính trị của Nhà nước nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển. Điều kiện tồn tại đó được thể hiện bằng cách thức ứng xử của chủ thể chính sách. Khái niệm người có công Theo nghĩa rộng: Người có công là những người đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước.
Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ lợi ích của đất nước, dân tộc. Người có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc. Theo nghĩa hẹp: Người có công để chỉ những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ,. có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Người có công: Từ đặc điểm lịch sử dân tộc và với truyền thống uống nước nhớ nguồn nên trong chính sách của nhà nước ta qua các thời kỳ luôn có những ghi nhận với lớp người có những cống hiến, hy sinh hoặc có những thành tích, đóng góp đặc biệt xuất sắc cho đất nước. Những ưu tiên đó được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật và đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm người có công. Do đó, khái niệm này trước đây thường được hiểu theo nghĩa hẹp, mà theo đó, người có công chỉ là những người có công với cách mạng.
Đó là những 10 người có đóng góp trong các cuộc chiến thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, căn cứ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với từng đối tượng là người có công mà nhà nước ta đã quy định thì: Người có công bao gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc. Họ là những người có thành tích hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Người có công là người đã có thành tích tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và đã được Nhà nước công nhận.
Cho đến nay hầu như chưa có một định nghĩa cụ thể về người có công. Theo Khoản 1, Điều 2 Văn bản hợp nhất Pháp lệnh ưu đãi người có công năm 2012 “Người có công với cách mạng” bao gồm: “Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng”. Tuy nhiên, trong luận văn này thì phạm vi người có công còn bao hàm cả thân nhân người có công. Khái niệm chính sách đối với người có công Chính sách đối với người có công là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội.
Trong hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay gồm có chính sách đối với người có công, bảo hiểm xã hội đối với người lao động, cứu trợ xã hội đối với những người gặp rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo. Đây là sự bảo vệ của nhà nước không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn là sự thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người có công. Chính sách đối với người có công là sự phản ánh trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng thông qua các chế độ đãi ngộ đặc biệt để ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công và bù đắp phần nào đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công. Theo Thuật ngữ Lao động Xã hội thì: “Chính sách người có công là những quy định chung của Nhà nước bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hi sinh cao cả của người có công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với người có công” [tr31].
Khái niệm thực thi chính sách Thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. Chu trình chính sách (chính sách công) là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách công đến khi kết quả của chính sách được đánh giá - là quá trình luân chuyển các bước từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội. Hoạch định chính sách công Hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, đánh giá chính sách: Giai đoạn đầu tiên trong chu trình là hoạch định chính sách: Hoạch định chính sách là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách. Đây là giai đoạn hình thành phương án chính sách và ra quyết nghị chính sách.