mở đầu sự nghiệp đổi mới, thời điểm đánh dấu bước phát triển về chất trong tư duy của Đảng và cũng là thời điểm tổng kết kinh nghiệm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc với vai trò lãnh đạo của Đảng, thứ nhất là “đổi mới phải lấy dân làm gốc”, mọi hành động, mục tiêu của Đảng lấy dân làm động lực đâe phát triển đồng thời giải thích rõ nội dung 16 của bài học kinh nghiệm đó để mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải luôn xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của đa số nhân dân lao động. Có thể thấy Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (1986) của Đảng là kết quả của quá trình đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn rất quý báu và kế thừa quan điểm của các kỳ đại hội trước…… Đúc kết từ những bài học king nghiệm của Đại Hội VI (1986) , Đại hội VII (1991) Đảng ta thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Cương lĩnh nêu lên 5 bài học lớn, đặc biệt ở bài học thứ 2 Đảng ta nhấn mạnh “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”[19, tr.
Trong mô hình xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ. Vì vậy “toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta là nhằm củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [28, tr.142], trong đó, việc xây dựng Nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, có khối liên minh công - nông - trí là nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một nhiệm vụ quan trọng. Nó chính là cơ chế đảm bảo và phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân lao động. Tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: "Xây dựng nền dân chủ XHCN là nội dung cơ bản đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” [19, tr. Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998, về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời từ tư tưởng của đường lối, Nghị quyết của Đại hội VII (1991). Bộ Chính trị chỉ rõ phải ban hành Chỉ thị này là vì: "quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn 17 được. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống” và "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành QCDC ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện”. Cùng với việc đề ra phương hướng, chiến lược phát triển đất nước một cách toàn diện và lâu dài, Đại hội IX của Đảng (2001), Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới, Đảng ta đã coi sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu “ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”, thể hiện sự kiên định và quyết tâm tiếp tục phát triển nền dân chủ XHCN trong tình hình mới. Đảng ta khẳng định “sự nghiệp đổi mới là vì lợi ích của nhân dân, do nhân dân thực hiện, do đó là sự nghiệp của chính nhân dân” [20, tr. Ðáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ: “Dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối gắn bó giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân.
Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Ðảng. Mọi đường lối, chính sách của Ðảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”. Vậy việc mở rộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nước ta đang trong tiến trình hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế. Thực tiễn và lý luận đã khẳng định tính tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu 18 của chủ nghĩa xã hội không gì khác hơn là giành dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.
Con đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta là tiến tới xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; một xã hội không có sự tha hóa, bóc lột giữa người với người; một xã hội mà con người được tự do và bình đẳng trước pháp luật. Và đến Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước”[22, tr.
Đồng thời, phải quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Với quan điểm cơ bản là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội trước, Đại Hội XII (2016) của Đảng đã đưa ra những quyết sách mới, đúng đắn, mạnh mẽ, phù hợp để phát huy thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đaị hội đã đưa ra một số điểm mới nổi bật trong các lĩnh vực, việc phát huy nền dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân là một trong những điểm mới.
Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc 19 trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân. Thể chế hoá và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; thể chế hoá và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức.
Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hoá, xã hội. Theo từ Tiếng Việt “ Quy chế là nững quy định thành chế độ mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó” [49, tr. Với nội hàm của quy chế, chúng ta có thể hiểu: Quy chế dân chủ cơ sở là những văn bản pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức điều phải nghiêm chỉnh thực hiện những điều quy định về quyền dân chủ và phát huy quyền tự do, bình đẳng của nhân dân, để nhân dân theo đó mà thực hiện trong những hoạt động của mình ở cơ sở.
Như vậy, Quy chế dân chủ cơ sở được hiểu là một định chế cụ thể thể đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Cơ sở ở đây, được hiểu là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất, công tác… của một hệ thống tổ chức, trong quan 20 hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên. Trong hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của nước ta có nhiều loại hình cơ sở. Đối với hệ thống tổ chức hành chính 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành), huyện (quận) và xã (phường, thị trấn) của Nhà nước ta; xã, phường, thị trấn là các đơn vị hành chính cơ sở (thường được gọi tắt là cơ sở).
Cơ sở cũng được hiểu là nơi đông đảo nhân dân (công nhân, nông dân, cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần lao động khác) đang sinh sống và làm việc. Nói cách khác nhân dân ở đây là người lao động ở xã, phường, thị trấn. Những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp và trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh… đây là những nơi có thể xảy ra những mâu thuẫn, những bức xúc của người lao động và cũng là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.