Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Sau các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, nhiều người lính trở về đời thường mang theo thương tật, bệnh tật và suy giảm khả năng lao động, đối mặt với nhiều khó khăn trong sinh hoạt và sản xuất. Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với thương, bệnh binh và thân nhân không chỉ thể hiện đạo lý truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", mà còn là trách nhiệm chính trị nhằm bảo đảm an sinh xã hội, bù đắp một phần tổn thất và giúp các gia đình chính sách ổn định cuộc sống.
Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là vùng đất bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô, có diện tích 424 km2 với dân số trên 265 nghìn người. Địa phương có cơ cấu kinh tế đa dạng gồm nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trong những năm qua, công tác chăm lo người có công tại Ba Vì đã được các cấp ủy Đảng và chính quyền triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh trên địa bàn huyện vẫn còn bộc lộ những tồn tại, bất cập cần được nghiên cứu và tháo gỡ.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về chính sách xã hội, tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm chính sách xã hội và vai trò của chính sách xã hội.
- Làm rõ nội dung của chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách xã hội cho thương, bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì.
- Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn tại địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận hệ thống lý luận về chính sách xã hội thông qua các quan điểm học thuật kinh điển và hiện đại, bao gồm định nghĩa của V.Z. Ro-go-vin về bản chất phân tích phức hợp và quản lý xã hội, Winkler về tổng hòa các biện pháp phục vụ lợi ích giai cấp công nhân và người lao động, Anthony Giddens về mối quan hệ giữa nghiên cứu xã hội học với hoạch định chính sách công, và quan điểm trong giáo trình "Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại" (Nxb. KHXH, 1980). Từ đó, tác giả sử dụng khái niệm cốt lõi: Chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khỏe, nhà ở và giáo dục trên cơ sở bình đẳng, công bằng xã hội. Các chức năng của chính sách xã hội được xác định trên 3 phương diện: định hướng sự phát triển xã hội, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội, và ổn định trật tự xã hội gắn liền với nâng cao chất lượng cuộc sống.
Khung pháp lý được tác giả hệ thống hóa qua từng thời kỳ lịch sử, bắt đầu từ Sắc lệnh số 20/SL (1947), Sắc lệnh số 242/SL (1948), Nghị định số 236/HĐBT (1985), Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 và Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 (hợp nhất tại văn bản số 01/VBHN-VPQH năm 2012). Đi kèm với đó là các văn bản dưới luật điều chỉnh trực tiếp các chế độ ưu đãi: Nghị quyết số 49/2017/QH14, Nghị định số 99/2018/NĐ-CP (quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng), Nghị định số 74-CP ngày 25/10/1993 và Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 (chính sách miễn, giảm thuế đất), Nghị định số 86/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH (chính sách ưu đãi giáo dục), cùng Nghị định số 91/1998/NĐ-CP về điều lệ xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa.
Về phương pháp luận, tác giả sử dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét sự biến đổi của chính sách gắn liền với các nấc thang phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Áp dụng trong việc hệ thống hóa quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các công trình khoa học tiền nhiệm.
- Phương pháp logic và lịch sử: Dùng để đối chiếu quá trình tiến hóa của các chế độ trợ cấp qua các giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thời kỳ bao cấp và thời kỳ Đổi mới.
- Phương pháp điều tra xã hội hóa: Khảo sát thực tế tình hình triển khai tại địa phương, phỏng vấn đại diện cơ quan quản lý và đối tượng thụ hưởng chính sách.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các báo cáo thống kê chính thức từ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Vì, số liệu rà soát tại 31 xã/thị trấn trên địa bàn huyện, các văn bản chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Ba Vì và dữ liệu phỏng vấn nhân vật cụ thể.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chính sách xã hội và chính sách đối với thương bệnh binh
Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng, phân loại chính sách xã hội thành các nhóm: đời sống lao động (bảo vệ người lao động, bảo hiểm xã hội, thị trường lao động), nhóm định hướng cho các đối tượng đặc thù (người có công, xóa đói giảm nghèo, gia đình, người cao tuổi, thanh niên, nông dân) và các lĩnh vực bổ trợ (giáo dục, nhà ở, bình ổn giá).
Tác giả phân tích tiến trình xây dựng chính sách ưu đãi người có công qua 4 giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Bắt đầu từ Sắc lệnh 20/SL và 242/SL; các quy định còn đơn giản, mang tính hướng dẫn, trợ cấp mang tính chất tượng trưng do kinh tế còn khó khăn.
- Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954-1975): Pháp luật phát triển tương đối toàn diện hơn về vật chất và tinh thần nhưng vẫn mang tính liệt kê, thiếu chiều sâu định lượng và vận hành trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
- Giai đoạn 1975-1985: Điển hình là Nghị định 236/HĐBT thống nhất đối tượng và điều kiện hưởng trên toàn quốc; tuy nhiên văn bản còn tản mạn, mang tính xử lý tình thế trước biến động kinh tế và chiến tranh bảo vệ biên giới.
- Giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 đến nay: Chế độ ưu đãi được hiến định trong Hiến pháp năm 1992 và pháp điển hóa qua Pháp lệnh ưu đãi người có công, tạo lập sự công bằng giữa thương binh thoát ly và không thoát ly, tách biệt chính sách bảo hiểm xã hội và chính sách ưu đãi xã hội. Đến thời điểm nghiên cứu, cả nước có khoảng 9 triệu người có công (trong đó hơn 1,4 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng; hơn 2 triệu thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ), được quản lý bởi hệ thống gồm 4 Pháp lệnh, 4 Nghị định, 22 Thông tư và Thông tư liên tịch, 13 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Nội dung chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh ở Việt Nam được khái quát thành 5 nhóm chế độ cốt lõi:
- Chế độ trợ cấp, phụ cấp hàng tháng: Quy định theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 21% đến 100% đối với thương binh và 41% đến 100% đối với bệnh binh theo Nghị định 99/2018/NĐ-CP, kèm theo phụ cấp đối với thương tật, bệnh tật đặc biệt nặng và trợ cấp cho người phục vụ.
- Chính sách ưu đãi về y tế và chăm sóc sức khỏe: Cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, điều dưỡng phục hồi sức khỏe 2 năm/lần (hoặc 1 năm/lần đối với tỷ lệ suy giảm từ 81% trở lên), mua thẻ bảo hiểm y tế cho người phục vụ thương, bệnh binh nặng.
- Chính sách miễn, giảm thuế đất: Miễn 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp và đất ở cho thương binh hạng 1/4, 2/4 và bệnh binh hạng 1/3, 2/3; giảm 50% cho thương binh hạng 3/4, 4/4 và bệnh binh hạng 2/3, 3/3 theo Nghị định 74-CP và Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010.
- Chính sách ưu đãi giáo dục: Ưu tiên tuyển sinh, miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập từ mầm non đến đại học cho thương, bệnh binh và con đẻ theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 09/2016.
- Phong trào và quỹ "Đền ơn đáp nghĩa": Thành lập theo Nghị định 91/1998/NĐ-CP nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa để xây dựng, sửa chữa nhà ở, khám bệnh cấp thuốc và thăm hỏi dịp lễ Tết.
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội đối với thương bệnh binh ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Theo thống kê của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Vì, toàn huyện có 4.751 gia đình thuộc diện chính sách người có công, bao gồm 2 cán bộ tiền khởi nghĩa, 1.647 hộ thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp, 1.329 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, và 818 bệnh binh.
Đặc điểm nhân khẩu học thể hiện phần lớn đối tượng đã cao tuổi, chưa qua đào tạo nghề chuyên môn do dành trọn tuổi trẻ tham gia chiến tranh, mang nhiều thương tật ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tự phục vụ và lao động kinh tế.
| STT |
Nhóm độ tuổi |
Thương binh (người) |
Tỷ lệ thương binh (%) |
Bệnh binh (người) |
Tỷ lệ bệnh binh (%) |
| 1 |
Từ 50 – 60 tuổi |
298 |
22,42% |
126 |
15,40% |
| 2 |
Từ 60 – 70 tuổi |
649 |
48,83% |
512 |
62,59% |
| 3 |
Từ 71 tuổi trở lên |
382 |
28,74% |
180 |
22,01% |
| Tổng |
|
1.329 |
100% |
818 |
100% |
Bảng: Cơ cấu thương, bệnh binh tại huyện Ba Vì theo độ tuổi (Số liệu Phòng LĐ-TB&XH huyện Ba Vì)
Khóa luận phân tích các thành tựu đạt được tại Ba Vì:
- Chi trả trợ cấp hàng tháng: 100% thương, bệnh binh trên địa bàn được hưởng trợ cấp đầy đủ, kịp thời theo Nghị định 99/2018/NĐ-CP.
- Chăm sóc y tế: 100% đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế và miễn, giảm chi phí khám chữa bệnh; 80% được cấp phát thuốc miễn phí định kỳ; 20% được ưu tiên trong khám chữa bệnh; 10% được ưu tiên bố trí giường bệnh.
- Miễn giảm thuế sử dụng đất: Toàn bộ 100% gia đình thương, bệnh binh thuộc diện được xét duyệt; trong đó 29% được miễn thuế đất ở và đất nông nghiệp hoàn toàn, 71% được giảm 50% thuế đất.
- Hỗ trợ giáo dục cho con em: 100% con thương, bệnh binh được hưởng chế độ cộng điểm ưu tiên xét tuyển đại học, cao đẳng, được miễn giảm học phí và tiếp cận chính sách vay vốn ưu đãi học sinh, sinh viên; khoảng 65% nhận trợ cấp học tập hàng tháng và gần 60% được hỗ trợ kinh phí mua sách vở, dụng cụ học tập.
- Công tác Đền ơn đáp nghĩa: Huyện ủy và UBND huyện Ba Vì phối hợp Ủy ban MTTQ tổ chức thăm hỏi, tặng quà định kỳ vào dịp 27/7 và Tết Nguyên đán; tiến hành tu bổ, chỉnh trang các nghĩa trang liệt sĩ.
Nguyên nhân thành tựu đến từ việc hệ thống thể chế của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, cùng sự chủ động của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện trong việc triển khai quy chế dân chủ, thực hiện Chỉ thị 23/CT-TTg ngày 27/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Tổng rà soát chính sách người có công, tổ chức thanh tra 2-3 lần/năm để kịp thời phát hiện sai phạm.
Tuy nhiên, chương 2 cũng chỉ ra những hạn chế lớn:
- Công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức, nội dung khô khan, phương thức chủ yếu dựa vào các kênh truyền thống:
| STT |
Hình thức tuyên truyền |
Số xã đã triển khai (trên tổng số 31 xã/thị trấn) |
| 1 |
Tuyên truyền miệng |
31 xã |
| 2 |
Tuyên truyền qua sinh hoạt chi hội |
31 xã |
| 3 |
Sử dụng hệ thống truyền thanh xã |
31 xã |
| 4 |
Tham quan thực tế |
28 xã |
| 5 |
Tuyên truyền qua thư viện, câu lạc bộ |
8 xã |
| 6 |
Hoạt động văn hóa, sân khấu hóa |
3 xã |
Bảng: Một số hình thức tuyên truyền chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh tại 31 xã/thị trấn huyện Ba Vì
- Tồn đọng hồ sơ người có công do nguyên nhân lịch sử: mất giấy tờ gốc, thiếu người làm chứng hợp pháp nên chưa thể hoàn thiện thủ tục công nhận.
- Tình trạng khai man, làm giả hồ sơ y tế, làm giả giấy tờ chứng minh vết thương tái phát nhằm trục lợi chính sách; việc truy thu tiền trợ cấp đã chi sai gặp nhiều bế tắc do đa số đối tượng thuộc hộ nghèo, đời sống khó khăn.
- Hoạt động xã hội hóa chưa khơi thông triệt để sức mạnh cộng đồng; quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" chưa thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp và nhà hảo tâm.
- Năng lực cán bộ chuyên trách cấp cơ sở còn bất cập: quy trình thực hiện một chiều từ trên xuống, thiếu tham vấn phản hồi từ người thụ hưởng; thủ tục hành chính rườm rà; thái độ ứng xử của một số cán bộ cấp xã khi tiếp nhận hồ sơ còn thiếu tận tình, gây phiền hà cho người cao tuổi.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã hội đối với thương bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì
Chương 3 xác định 2 phương hướng chủ đạo:
- Tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chủ trương của Đảng, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh và Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng; cụ thể hóa các Pháp lệnh năm 2005 và 2012 thành chương trình hành động sát thực tiễn Ba Vì.
- Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng và UBND huyện đối với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, phối hợp liên ngành giải quyết khiếu nại, tố cáo và thanh tra công vụ.
Trên cơ sở phương hướng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp khả thi:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách: Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phương pháp tuyên truyền giản dị, dễ hiểu; phát huy trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu; huy động ngân sách và tài trợ xã hội hóa cho công tác tuyên truyền; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền (sân khấu hóa, hội thi, tờ rơi, loa truyền thanh) với phương châm "Mỗi người dân trong cộng đồng dân cư là một tuyên truyền viên"; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực tiễn và ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ tuyên truyền viên.
- Thực hiện rà soát, giải quyết hồ sơ tồn đọng và xử lý sai sót: Tiếp tục rà soát theo Chỉ thị 23/CT-TTg; xác minh thực tế thông qua đồng đội cũ và nhân chứng lịch sử; công khai, minh bạch quy trình xét duyệt tại cơ sở.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra thường xuyên: Định kỳ hậu kiểm hồ sơ hưởng trợ cấp; đình chỉ và thu hồi dứt điểm giấy chứng nhận, chế độ trợ cấp đối với trường hợp man khai, làm giả bệnh án; thực hiện đối thoại trực tiếp, thấu tình đạt lý với người dân khi giải quyết khiếu nại.
- Tăng cường xã hội hóa công tác chăm sóc thương, bệnh binh: Huy động nguồn lực doanh nghiệp, phát triển mô hình chân kiềng "Nhà nước - cộng đồng - bản thân người có công", mở rộng các hoạt động phụng dưỡng, khám bệnh tình nguyện và hỗ trợ sản xuất.
- Phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Tăng cường giám sát quy trình tiếp nhận, chi trả trợ cấp tại cấp xã; đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người có công.
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả số liệu, khóa luận đã phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh thực thi chính sách tại Ba Vì tính đến năm 2019:
- Quản lý và chi trả trợ cấp hàng tháng cho 1.329 thương binh và 818 bệnh binh, đạt tỷ lệ 100%.
- Cơ cấu độ tuổi thương, bệnh binh tập trung cao nhất ở nhóm 60-70 tuổi (48,83% thương binh và 62,59% bệnh binh), nhóm trên 71 tuổi chiếm lần lượt 28,74% và 22,01%.
- Mức độ bao phủ y tế đạt 100% miễn, giảm viện phí và cấp thẻ bảo hiểm y tế; tỷ lệ miễn thuế đất ở và đất nông nghiệp đạt 29%, giảm thuế đạt 71%.
- Chính sách giáo dục ghi nhận 100% con thương, bệnh binh được hưởng ưu đãi điểm xét tuyển, miễn giảm học phí và vay vốn sinh viên.
Đóng góp của nghiên cứu thể hiện qua việc đánh giá khách quan mặt trái của công tác hành chính tại cơ sở: chỉ ra hiện tượng trục lợi chính sách qua hồ sơ y tế giả, tình trạng khó thu hồi ngân sách chi sai từ các đối tượng nghèo, và độ lệch lớn trong các phương thức truyền thông (31/31 xã chỉ làm tuyên truyền miệng và truyền thanh, trong khi chỉ 3 xã tổ chức sân khấu hóa). Hệ thống giải pháp đề xuất không dừng ở định hướng vĩ mô mà bám sát thực trạng địa bàn bán sơn địa huyện Ba Vì, kết hợp kiểm tra hành chính với đào tạo kỹ năng ứng xử cho cán bộ cơ sở.
So với các công trình nghiên cứu trước đó (thường nghiên cứu chung toàn quốc hoặc tại các quận/huyện nội thành), khóa luận đã đóng góp dữ liệu thực nghiệm đặc thù của một huyện bán sơn địa Hà Nội, làm rõ mối tương quan giữa đặc điểm kinh tế nông nghiệp của Ba Vì với nhu cầu thực thi chính sách thuế đất và an sinh cho thương bệnh binh cao tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện của tác giả:
- Hạn chế về thời gian và phạm vi khảo sát: Số liệu phân tích phụ thuộc chủ yếu vào các báo cáo hành chính của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Vì và khảo sát định tính, chưa triển khai được các cuộc điều tra mẫu diện rộng về mức sống, thu nhập thực tế của từng hộ gia đình thương, bệnh binh.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2019, chưa bao quát được sự thay đổi của các văn bản pháp lý mới ban hành sau năm 2019 (như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 và các Nghị định thay thế Nghị định 99/2018/NĐ-CP).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:
- Nghiên cứu so sánh hiệu quả thực hiện chính sách xã hội đối với người có công giữa các khu vực địa lý khác nhau trên địa bàn Hà Nội (vùng bán sơn địa như Ba Vì, Sơn Tây với các quận trung tâm đô thị).
- Đánh giá tác động của công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ, chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho thương, bệnh binh.
- Khảo sát chuyên sâu về hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và mô hình điều dưỡng tại gia đình đối với thương, bệnh binh giai đoạn tuổi già.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng và công tác chuyên môn:
- Đối với sinh viên, học viên các ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Giáo dục chính trị, Xã hội học, Công tác xã hội và Quản lý công: Tài liệu cung cấp ví dụ thực nghiệm cụ thể về phương pháp tiếp cận chính sách xã hội từ góc độ chính trị - xã hội học, kết hợp giữa khung lý thuyết Mác - Lênin với điều tra thực tế tại cấp huyện.
- Đối với cán bộ làm công tác Lao động - Thương binh và Xã hội cấp quận, huyện, thị xã: Chương 2 và Chương 3 của khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác rà soát hồ sơ, nhận diện các sai sót điển hình trong việc thẩm định vết thương tái phát, xử lý hồ sơ tồn đọng và triển khai các kênh tuyên truyền chính sách phù hợp với vùng nông thôn.
- Đối với các nhà nghiên cứu xây dựng đề tài tương tự: Bố cục của khóa luận cung cấp khung sườn chuẩn mực từ hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, thiết lập chỉ tiêu khảo sát y tế, giáo dục, thuế đất, đến đề xuất giải pháp đồng bộ từ tuyên truyền đến thanh tra, giám sát.
Câu hỏi thường gặp
1. Số lượng và cơ cấu độ tuổi của thương binh, bệnh binh tại huyện Ba Vì được ghi nhận trong nghiên cứu như thế nào?
Toàn huyện Ba Vì có 1.329 thương binh (và người hưởng chính sách như thương binh) cùng 818 bệnh binh. Về cơ cấu độ tuổi, nhóm từ 60 đến 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (thương binh chiếm 48,83% với 649 người; bệnh binh chiếm 62,59% với 512 người). Nhóm từ 71 tuổi trở lên có 382 thương binh (28,74%) và 180 bệnh binh (22,01%). Nhóm từ 50 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 298 thương binh (22,42%) và 126 bệnh binh (15,40%).
2. Tỷ lệ thương, bệnh binh huyện Ba Vì thụ hưởng các chính sách chăm sóc y tế đạt mức nào?
Kết quả điều tra cho thấy 100% thương, bệnh binh trên địa bàn được hưởng chính sách chăm sóc sức khỏe. Cụ thể: 100% được miễn, giảm chi phí khám chữa bệnh và cấp thẻ bảo hiểm y tế; 80% được cấp phát thuốc miễn phí; 20% được hưởng chế độ ưu tiên trong khám chữa bệnh; và 10% được ưu tiên bố trí giường bệnh.
3. Chính sách miễn, giảm thuế đất đối với gia đình thương, bệnh binh tại Ba Vì được thực hiện ra sao?
Do thu nhập của các gia đình thương, bệnh binh tại Ba Vì chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chính sách thuế đất có ý nghĩa thiết thực. Kết quả thống kê cho thấy 100% đối tượng thuộc diện quy định đều được thụ hưởng, trong đó 29% được miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất ở và đất nông nghiệp (chủ yếu là thương binh hạng 1/4, 2/4 và bệnh binh hạng 1/3, 2/3), và 71% được giảm 50% mức thuế phải nộp.
4. Khảo sát tại 31 xã/thị trấn ở Ba Vì chỉ ra bất cập gì trong công tác tuyên truyền chính sách?
Công tác tuyên truyền tại Ba Vì chủ yếu dựa vào các hình thức truyền thống: 31/31 xã áp dụng tuyên truyền miệng, sinh hoạt chi hội và hệ thống loa truyền thanh; 28/28 xã tổ chức tham quan thực tế. Ngược lại, các hình thức trực quan, sinh động lại rất hạn chế: chỉ có 8 xã tuyên truyền qua thư viện/câu lạc bộ và chỉ có 3 xã áp dụng hình thức sân khấu hóa hoặc hoạt động văn hóa, dẫn đến hiệu quả tuyên truyền chưa cao, nội dung còn khô khan.
5. Nghiên cứu chỉ ra những vướng mắc nổi cộm nào trong xử lý sai phạm và hồ sơ tồn đọng tại địa phương?
Nghiên cứu chỉ ra tình trạng làm giả hồ sơ thương tật hoặc giả mạo chứng từ y tế điều trị vết thương tái phát để trục lợi chính sách. Khi phát hiện sai phạm, cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong việc truy thu số tiền trợ cấp đã chi trả vì phần lớn đối tượng thuộc diện hộ nghèo, khó khăn. Ngoài ra, việc xác nhận cho các trường hợp có công thực sự nhưng bị thất lạc giấy tờ gốc hoặc không còn người làm chứng vẫn còn nhiều ách tắc chưa được xử lý dứt điểm.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Kim Ánh đã giải quyết tương đối trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận của chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học và khảo sát thực tiễn thực hiện chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh tại huyện Ba Vì giai đoạn 2010 - 2019. Đề tài đã phản ánh khách quan những kết quả đạt được trong việc chi trả trợ cấp, chăm sóc y tế, giáo dục và miễn giảm thuế đất, đồng thời chỉ rõ những lỗ hổng trong thẩm định hồ sơ và công tác tuyên truyền tại cơ sở. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất bám sát tinh thần Chỉ thị số 14-CT/TW và Chỉ thị số 23/CT-TTg, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý an sinh xã hội tại địa bàn cơ sở.