Luận văn: Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã ở Châu Thành

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ công chức cấp xã tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Phân tích hiệu quả và giải pháp.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách phát triển cán bộ công chức cấp xã

Chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã là một tập hợp các quyết sách của Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ nhân sự cơ sở có đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý. Tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, việc thực hiện hiệu quả chính sách này có vai trò quyết định đến sự thành công của quá trình cải cách hành chính cấp xã và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là những người trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách vào cuộc sống. Do đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nhiệm vụ chiến lược, then chốt trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Luận văn của tác giả Dương Thị Kim Chi (2021) đã chỉ rõ, cấp xã là "bộ mặt của Nhà nước ở địa phương", và hiệu quả hoạt động của cấp này phụ thuộc cốt lõi vào năng lực của đội ngũ cán bộ. Các văn bản pháp lý quan trọng như Luật Cán bộ, công chức, Nghị quyết số 26-NQ/TW, và đặc biệt là Nghị định 34/2019/NĐ-CP, đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho công tác này. Tuy nhiên, việc triển khai tại mỗi địa phương, trong đó có huyện Châu Thành, đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo và các giải pháp đồng bộ để giải quyết những thách thức thực tiễn, hướng tới xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, và hiệu quả.

1.1. Vai trò then chốt của công tác cán bộ cấp xã ở cơ sở

Cán bộ, công chức cấp xã giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị. Họ là những người trực tiếp thực thi chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành”. Vai trò này càng trở nên quan trọng tại huyện Châu Thành, nơi cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ. Công tác cán bộ cấp xã hiệu quả sẽ đảm bảo các chính sách được triển khai nhanh chóng, chính xác, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân. Ngược lại, những hạn chế của đội ngũ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước, gây cản trở cho sự phát triển chung. Họ là lực lượng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân một cách đầy đủ nhất, từ đó giúp chính quyền các cấp hoạch định chính sách sát với thực tiễn.

1.2. Cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ công chức

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo nền tảng cho việc phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Nổi bật là Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Gần đây nhất, Nghị định 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 92/2009/NĐ-CP và Thông tư số 13/2019/TT-BNV của Bộ Nội vụ đã quy định chi tiết về số lượng, chức danh, tiêu chuẩn và chế độ chính sách. Những văn bản này là cơ sở để các địa phương như huyện Châu Thành xây dựng kế hoạch, quy hoạch và triển khai các chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trên cả nước. Việc tuân thủ và vận dụng sáng tạo các quy định này là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nhân sự tại cơ sở.

II. Phân tích thực trạng đội ngũ công chức Châu Thành An Giang

Việc thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Luận văn của Dương Thị Kim Chi (2021) đã chỉ ra một thực trạng đội ngũ công chức Châu Thành còn nhiều bất cập. Mặc dù về cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn hạn chế về năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ. Nghiên cứu trích dẫn: "một số nơi cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn những hạn chế nhất định như: thiếu tính chuyên nghiệp trong giải quyết công việc, đa phần chưa có năng lực độc lập, quyết đoán". Tình trạng này không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng đến quá trình cải cách hành chính cấp xã. Các vấn đề như khả năng thích ứng với nhiệm vụ mới còn chậm, kỹ năng tổng hợp và dự báo yếu, công tác phối hợp thiếu hiệu quả là những rào cản lớn. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, gây phiền hà cho nhân dân. Việc phân tích sâu sắc thực trạng này là cơ sở quan trọng để Sở Nội vụ tỉnh An Giang và UBND huyện Châu Thành đề ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phù hợp và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

2.1. Hạn chế về năng lực và phẩm chất của một bộ phận cán bộ

Một trong những thách thức lớn nhất là chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chưa đồng đều. Luận văn chỉ ra rằng nhiều cán bộ thiếu kỹ năng tư duy, dự báo và xây dựng kế hoạch một cách chủ động. Kinh nghiệm tổng kết thực tiễn còn yếu, dẫn đến việc giải quyết công việc chưa đạt hiệu quả cao. Đặc biệt, kỹ năng phối hợp, hợp tác giữa các cá nhân, bộ phận còn hạn chế. Ngoài ra, vấn đề đạo đức công vụ cũng là một mối lo ngại khi "một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức có dấu hiệu lệch lạc về phẩm chất, đạo đức; thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ". Những hạn chế này đòi hỏi phải có các biện pháp quyết liệt để nâng cao năng lực công chức xã.

2.2. Bất cập trong công tác tuyển dụng đào tạo và đánh giá

Công tác quản lý nhân sự tại cấp xã vẫn còn một số bất cập. Quá trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự gắn với nhu cầu thực tế của từng vị trí công việc. Nội dung đào tạo có lúc còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng kỹ năng mềm và kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn. Bên cạnh đó, quy trình đánh giá cán bộ công chức vẫn còn những hạn chế, chưa phản ánh đúng năng lực và kết quả công tác thực tế, dẫn đến việc bố trí, sử dụng cán bộ chưa phát huy hết tiềm năng. Việc xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn cán bộ công chức cấp xã rõ ràng và một quy trình đánh giá minh bạch là yêu cầu cấp thiết.

III. Top giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức

Để khắc phục những hạn chế hiện tại và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Châu Thành vững mạnh, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trọng tâm của các giải pháp này là tập trung vào việc nâng cao năng lực công chức xã thông qua các chương trình đào tạo thực chất và xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng. Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã phải được đổi mới căn bản từ nội dung đến phương pháp, đảm bảo kiến thức và kỹ năng được trang bị sát với yêu cầu nhiệm vụ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Tín và cộng sự (2015), nhu cầu đào tạo cần được xác định dựa trên mô tả công việc chi tiết của từng vị trí, ưu tiên các kỹ năng chuyên môn, ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng tổng hợp. Song song đó, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn cán bộ công chức cấp xã một cách nghiêm túc sẽ là thước đo để tuyển dụng, đánh giá và quy hoạch nhân sự. Các tiêu chuẩn này cần bao quát cả về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực quản lý nhà nước và phẩm chất đạo đức. Đây là những giải pháp phát triển nguồn nhân lực nền tảng, tạo ra sự chuyển biến về chất cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng theo vị trí việc làm

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã cần được thiết kế lại theo hướng thực chất và hiệu quả. Thay vì đào tạo đại trà, các chương trình cần được xây dựng dựa trên khung năng lực và yêu cầu cụ thể của từng chức danh. Nội dung cần cân bằng giữa lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và các kỹ năng mềm thiết yếu như giao tiếp, xử lý khủng hoảng, và ứng dụng công nghệ thông tin. Việc liên kết với các cơ sở đào tạo uy tín và mời các chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy sẽ giúp nâng cao chất lượng các khóa học. Đồng thời, cần khuyến khích tinh thần tự học, tự rèn luyện trong mỗi cán bộ, công chức.

3.2. Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn cán bộ công chức cấp xã

Thiết lập một bộ tiêu chuẩn cán bộ công chức cấp xã rõ ràng là yêu cầu bắt buộc để chuẩn hóa đội ngũ. Các tiêu chuẩn này không chỉ dừng lại ở bằng cấp mà cần cụ thể hóa các yêu cầu về năng lực thực thi công vụ, kỹ năng giải quyết vấn đề và phẩm chất đạo đức. Dựa trên nghiên cứu của Trần Ninh Đông (2007) về xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, huyện Châu Thành có thể xây dựng các bảng mô tả công việc chi tiết cho từng chức danh. Đây sẽ là cơ sở khách quan cho công tác tuyển dụng, đánh giá cán bộ công chức, và quy hoạch, đảm bảo lựa chọn đúng người, đúng việc.

IV. Bí quyết quy hoạch sử dụng và đãi ngộ cán bộ xã hiệu quả

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng cá nhân, các giải pháp mang tính hệ thống trong công tác quản lý nhân sự đóng vai trò quyết định. Hiệu quả của công tác cán bộ cấp xã tại huyện Châu Thành phụ thuộc lớn vào việc thực hiện tốt công tác quy hoạch, luân chuyển, đánh giá và xây dựng chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý. Công tác quy hoạch cán bộ xã huyện Châu Thành cần đi trước một bước, có tầm nhìn dài hạn, nhằm tạo ra nguồn cán bộ kế cận dồi dào, đủ phẩm chất và năng lực. Việc luân chuyển cán bộ ở An Giang cần được thực hiện thường xuyên để rèn luyện cán bộ qua nhiều môi trường công tác khác nhau, giúp họ tích lũy kinh nghiệm toàn diện. Đặc biệt, việc hoàn thiện chế độ chính sách cho cán bộ xã là đòn bẩy quan trọng để thu hút, giữ chân người tài và tạo động lực cống hiến. Một chính sách đãi ngộ công bằng, minh bạch, gắn với hiệu quả công việc sẽ khuyến khích cán bộ, công chức không ngừng nỗ lực, đổi mới, sáng tạo. Cuối cùng, một quy trình đánh giá cán bộ công chức khoa học, khách quan, dựa trên kết quả công việc cụ thể sẽ là nền tảng để thực hiện tốt các khâu khác trong công tác cán bộ.

4.1. Cải tiến công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ

Công tác quy hoạch cán bộ xã huyện Châu Thành phải được thực hiện một cách bài bản, dân chủ, công khai. Quy hoạch cần gắn liền với đào tạo, bồi dưỡng và phải có tính "động" và "mở", thường xuyên được rà soát, bổ sung. Song song, cần đẩy mạnh luân chuyển cán bộ ở An Giang giữa các xã, thị trấn và giữa cấp xã với cấp huyện. Việc luân chuyển không chỉ giúp cán bộ phát triển toàn diện mà còn góp phần khắc phục tình trạng cục bộ, trì trệ, tạo ra luồng sinh khí mới cho bộ máy chính quyền cơ sở.

4.2. Hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài

Để cán bộ, công chức an tâm công tác, cần có chế độ chính sách cho cán bộ xã tương xứng. Điều này bao gồm cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp, chính sách nhà ở, bảo hiểm y tế và các điều kiện làm việc khác. Cần nghiên cứu các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút những người có trình độ cao, có năng lực về làm việc tại cấp xã. Việc đãi ngộ không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, tạo môi trường làm việc dân chủ, tôn trọng và ghi nhận sự đóng góp của mỗi cá nhân.

V. Kết quả thực hiện chính sách cán bộ công chức Châu Thành

Quá trình thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức tại huyện Châu Thành đã mang lại những kết quả tích cực, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ. Theo số liệu từ luận văn, tính đến năm 2020, tổng số cán bộ, công chức cấp xã là 293 người, đảm bảo biên chế theo Nghị định 34/2019/NĐ-CP. Đáng chú ý, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đã được nâng lên một bước quan trọng. Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ đại học và sau đại học ngày càng tăng, cho thấy hiệu quả của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã. Cụ thể, đối với cán bộ cấp xã, có 101/139 người trình độ Đại học và 07 người sau đại học. Đối với công chức, con số tương ứng là 116/149 người trình độ Đại học. Cơ cấu đội ngũ cũng có sự điều chỉnh hợp lý hơn về độ tuổi và giới tính, với số lượng cán bộ trẻ và cán bộ nữ được quan tâm, tạo điều kiện phát triển. Những kết quả này đã tác động trực tiếp, góp phần nâng cao năng lực công chức xã, cải thiện hiệu quả quản lý nhà nước, và thúc đẩy các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành.

5.1. Chuyển biến tích cực về số lượng và cơ cấu nhân sự

UBND huyện Châu Thành đã thực hiện tốt việc phân bổ biên chế, đảm bảo đủ số lượng cán bộ, công chức cho 13 đơn vị hành chính cấp xã. Cơ cấu đội ngũ ngày càng được trẻ hóa, với độ tuổi chủ yếu từ 30-50, là độ tuổi có sự chín muồi về kinh nghiệm và dồi dào sức sáng tạo. Tỷ lệ cán bộ nữ cũng được cải thiện, thể hiện sự tiến bộ trong công tác cán bộ, đảm bảo sự cân đối và phát huy vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở.

5.2. Nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị

Nhờ chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã, trình độ học vấn và lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức huyện Châu Thành đã được nâng cao rõ rệt. Đa số cán bộ, công chức đều đạt chuẩn về chuyên môn và được trang bị kiến thức lý luận chính trị từ trung cấp trở lên. Điều này giúp họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng để vận dụng vào thực tiễn công tác, góp phần thực hiện hiệu quả công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.

04/10/2025
Thực hiện chính sách phát triển cán bộ công chức cấp xã ở huyện châu thành tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Lý luận chung về chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã 11 1.1 Khái niệm và đặc điểm cán bộ cấp xã a) Khái niệm cán bộ, cán bộ cấp xã - Khái niệm cán bộ Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về ngữ nghĩa của từ “cán bộ”. Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới gốc độ nào thì từ “cán bộ” cũng được hiểu là chỉ đội ngũ làm công tác lãnh đạo, điều hành hay nói cách khác là chỉ người làm công tác chỉ huy tổ chức, cơ quan. Chính vì vậy, một tổ chức, cơ quan muốn hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ vừa có đức vừa có tài để đảm nhiệm công tấc lãnh đạo, chỉ huy. Từ cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây; được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực và với nhiều quan niệm khác nhau. Nhìn chung, các quan niệm đều đồng nhất : "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức" [40, tr. Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức được quy định về cán bộ như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[39]. Vậy cán bộ là những người làm việc theo nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 5 năm), họ là những người được bầu hoặc được bổ nhiệm, phê chuẩn trong cơ quan, tổ chức của nhà nước nói chung.

Hay nói cách khác, tiêu chuẩn của người cán bộ được quy định rất rõ ràng, cụ thể trong các văn bản hiện hành, họ phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí hiện hành, chịu trách nhiệm chính đối với cơ quan, tổ chức của mình theo các nhiệm kỳ mình đảm nhiệm. Họ là những người được Nhà 12 nước trao quyền lực nên phải có trách nhiệm trước nhân dân, trước Nhà nước về vai trò lãnh đạo của mình. Quản lý cán bộ phải tuân theo tiêu chuẩn, quy định hiện hành của Luật cán bộ, công chức và Điều lệ của Đảng. Vậy theo Luật cán bộ, công chức thì cán bộ là những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội ở Trung ương và địa phương, thực hiện vai trò lãnh đạo, điều hành của tổ chức, cơ quan mình đảm nhận vị trí lãnh đạo.

Dù là cán bộ ở Trung ương hay ở địa phương thì các tiêu chuẩn về người cán bộ cũng phải là người vừa phải có đức và có tài, phải vừa hồng vừa chuyên để đảm nhận vì trí công tác của mình. Bên cạnh đội ngũ cán bộ nói chung thì cán bộ cấp xã – đây là cấp cơ sở nên đội ngũ cán bộ cấp xã cũng có những sự khác biệt riêng, cụ thể như sau: - Cán bộ cấp xã Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì Cán bộ cấp xã bao gồm các chức danh sau: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Hay nói cách khác là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ làm việc trong hệ thống chính quyền cấp xã; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. 13 b) Đặc điểm cán bộ cấp xã Từ những quy định trên đây cho thấy đội ngũ cán bộ cấp xã có những đặc điểm sau: Thứ nhất, họ là công dân đủ 18 tuổi và là công dân Việt Nam.

Thứ hai, - Cán bộ phải là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội - Cán bộ phải là người vừa hồng vừa chuyên, có đủ đức và tài để gánh vác trách nhiệm lãnh đạo, điều hành tại chính quyền cơ sở. Thứ ba, về nơi làm việc: Cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Tổ chức chính trị – xã hội ở chính quyền cấp xã, phường, thị trấn. Thứ tư, về thời gian công tác: nhiệm kỳ công tác của cán bộ là thời hạn 5 năm trừ trường hợp là người cán bộ xin thôi việc, từ chức hay bị bãi nhiệm (Điều 30 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008). Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 – Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014).

Thứ năm, về chế độ lao động: Cán bộ được biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Thứ sáu, về tiêu chuẩn: Hầu hết cán bộ xã đều đảm nhận vị trí chủ chốt tại xã kể cả công tác Đảng, chính quyền và đoàn thể. Do đó, tiêu chuẩn một người cán bộ là rất quan trọng, khi bầu, bổ nhiệm hay phê chuẩn cán bộ cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật hiện hành.2 Khái niệm và đặc điểm công chức cấp xã a) Khái niệm công chức 14 Tùy vào đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, truyền thống văn hóa, xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà việc xác định phạm vi công chức của mỗi quốc gia sẽ có những điểm khác nhau. Nhưng tất cả các nước đều có những quan điểm chung, cơ bản về quan niệm công chức, đó là: Thứ nhất, về quốc tịch: công chức của một quốc gia phải là công dân của nước đó.

Thứ hai, về hình thức tuyển dụng: công chức là người được tuyển dụng thông qua các hình thức thi tuyển. Thứ ba, tính nghề nghiệp: công chức thực hiện một công việc mang tính thường xuyên, lâu dài trong công sở nhà nước theo nghiệp vụ chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm. Thứ tư, tính thứ bậc: công chức được xếp vào ngạch bậc khác nhau dựa vào vị trí và thâm niên công tác. Ngạch của công chức có các ngạch từ thập đến cao, cụ thể: ngạch cán sự, ngạch chuyên viên, ngạch chuyên viên chính, ngạch chuyên viên cao cấp.

Thứ năm, tính quan liêu: công chức hoàn toàn trung lập về chính trị, được đảm bảo sự ổn định về việc làm và được bảo vệ trong đời sống riêng tư, không phải chịu mọi sức ép nào của các tổ chức chính trị, kinh tế. Thứ sáu, tính được nhà nước trả lương: công chức được hưởng lương từ ngân sách của nhà nước. Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “công chức”. Bản thân ngay trong quy định của pháp luật nước ta, khái niệm “công chức” cũng có sự thay đổi qua từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền hành chính.

Nhưng Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong pháp luật về công chức; đã nêu ra khái niệm về công chức, có sự phân biệt giữa cán bộ và công chức, đặt nền tảng chính thức các quy định về chế độ công chức trong 15 giai đoạn mới. Tại khoản 2 điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy, về cơ bản, quan niệm về công chức ở Việt Nam hiện nay cũng tương đồng với quan niệm về công chức của các quốc gia trên thế giới, với những đặc điểm cơ bản của đội ngũ công chức nhà nước: Thứ nhất, Con đường hình thành nên công chức là do tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch. Thứ hai, Công chức thực hiện các hoạt động công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước.

Thứ ba, Công chức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tóm lại, Công chức là những người được tuyển dụng vào làm việc trong hệ thống cơ quan của nhà nước, hoạt động của họ gắn với quyền lực công nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Hay nói cách khác hoạt động của họ là nhằm phục vụ lợi ích công. Bên cạnh đó, công chức trong bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập là những người đứng đầu các đơn vị, chịu trách nhiệm về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.

Họ bên cạnh chịu những quy định, tiêu chuẩn của công chức nói chung họ còn có những đặc điểm riêng như: lương của họ là từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, họ được bổ 16 nhiệm vào ngạch công chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ