Tổng quan nghiên cứu

Khoa học và công nghệ giữ vị trí then chốt, là động lực trực tiếp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại tỉnh Quảng Ngãi, một địa bàn chiến lược thuộc vùng duyên hải miền Trung với diện tích tự nhiên 5.152,67 km² và quy mô dân số năm 2016 đạt 1.254,2 nghìn người, việc triển khai các chính sách khoa học và công nghệ đóng vai trò nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2011 - 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng bình quân 7,3%/năm, đưa tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2016 đạt 44,9 triệu đồng.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và thực tiễn thực thi vẫn còn nhiều rào cản mang tính hệ thống. Kinh phí phân bổ từ ngân sách địa phương cho khoa học và công nghệ chỉ đạt khoảng 0,4% tổng chi ngân sách tỉnh, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân cả nước từ 1,4% đến 1,8%. Tiềm lực nghiên cứu còn phân tán, cơ chế quản lý tài chính thiếu linh hoạt và mối liên kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp chưa đủ chặt chẽ.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng thực hiện chính sách khoa học và công nghệ tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016, chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp địa phương hoàn thiện cơ chế đặt hàng nghiên cứu, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn công và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của Lasswell và William Jenkins, kết hợp khung phân tích quá trình thực thi chính sách của Thomas R. Dye và Guy Peters. Chính sách công được tiếp cận như một chuỗi quyết định hành động có liên quan lẫn nhau của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.

Song song đó, luận văn áp dụng mô hình liên kết ba bên giữa Nhà nước, Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp cùng lý thuyết can thiệp thị trường khoa học công nghệ rút ra từ kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc. Trong đó, Nhà nước chuyển dần từ vai trò trực tiếp chỉ huy sang vai trò kiến tạo môi trường thể chế và vườn ươm sáng tạo.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được xây dựng trên cơ sở Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, bao gồm: hoạt động khoa học và công nghệ, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học và phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được chuẩn hóa theo quy chuẩn chi tối thiểu 2,0% ngân sách nhà nước và tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển trên tổng sản phẩm quốc nội đạt mức bình quân 0,44%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện thu thập từ các báo cáo chính thức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi, Sở Tài chính, Cục Thống kê, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016 và số liệu điều tra nghiên cứu phát triển toàn quốc của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 14 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi (gồm 1 thành phố trực thuộc và 13 huyện), khảo sát sâu 150 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và 12 doanh nghiệp tham gia chương trình đổi mới công nghệ thiết bị. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp thống kê toàn bộ các đề tài, dự án cấp tỉnh được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát thực tiễn.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích tổng hợp logic chính sách, so sánh đối chiếu với các địa phương như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và mô hình quốc tế. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bóc tách định lượng cơ cấu chi tiêu ngân sách, đánh giá chính xác hiệu quả đầu ra của từng chương trình chuyển giao kỹ thuật và xác định các nút thắt trong khâu tổ chức thực thi trên địa bàn toàn tỉnh từ năm 2011 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện chính sách đã tạo ra đột phá rõ nét trong khu vực sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Dự án canh tác mía bền vững tại các huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà đã hình thành vùng nguyên liệu gần 2.000 ha, nâng năng suất từ mức 40 - 50 tấn/ha lên 70 - 90 tấn/ha, giúp năng suất mía toàn tỉnh bình quân đạt 63 tấn/ha với chữ đường gần 10 CCS. Dự án thâm canh phục tráng giống tỏi Lý Sơn quy mô 7 ha đạt năng suất 7,1 tấn/ha, tăng 10% so với canh tác truyền thống (6,4 tấn/ha) và tiết kiệm 50% lượng nước tưới. Dự án cải tạo giống trâu đã lai tạo thành công hơn 2.000 con trâu nghé chất lượng cao cho đồng bào dân tộc Hrê, đồng thời mô hình nuôi heo nạc tại huyện Sơn Tịnh mang lại thu nhập ổn định từ 35 đến 50 triệu đồng/hộ/năm, đưa tốc độ tăng trưởng nông nghiệp toàn tỉnh đạt bình quân 5,4%/năm.

Thứ hai, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt tiến bộ tích cực. Toàn tỉnh đã có 150 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như ISO 9000, ISO 14000, HACCP, OHSAS 18001. Cơ quan chức năng đã cấp 135 văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp mới, bao gồm 182 nhãn hiệu, 03 bằng kiểu dáng công nghiệp và 02 bằng giải pháp hữu ích. Ngoài ra, 12 doanh nghiệp nhận kinh phí hỗ trợ đổi mới thiết bị với tổng số tiền 6 tỷ đồng.

Thứ ba, cơ cấu đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập. Mức chi ngân sách tỉnh cho hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2011 - 2016 chỉ đạt xấp xỉ 0,4% tổng chi ngân sách địa phương, thấp hơn nhiều so với quy định pháp luật. Nguồn kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển phụ thuộc tới 62% vào ngân sách nhà nước, trong khi nguồn vốn ngoài nhà nước chỉ chiếm 12% và nguồn vốn nước ngoài chiếm 26%.

Thứ tư, hệ thống tổ chức bộ máy cơ sở còn thiếu đồng bộ. Cả 14 huyện, thành phố chưa kiện toàn được đội ngũ cán bộ chuyên trách khoa học công nghệ theo đúng tinh thần Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV, làm suy giảm hiệu quả giám sát và nhân rộng các mô hình kỹ thuật sau nghiệm thu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý tài chính chậm đổi mới, chế độ chi tiêu và quyết toán còn nặng tính hành chính giấy tờ, chưa chấp nhận độ trễ và rủi ro đặc thù của hoạt động sáng tạo khoa học.

So sánh với các địa phương tiên tiến, Đà Nẵng đã triển khai thành công thí điểm cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng và ủy quyền cho cơ quan chuyên môn tổng hợp ngân sách toàn diện. Thành phố Hồ Chí Minh duy trì mức đầu tư khoa học công nghệ bình quân đạt 2,24% tổng chi ngân sách với tổng vốn 5.783,51 tỷ đồng giai đoạn 2011 - 2015, tạo đòn bẩy đưa doanh thu sản xuất Khu Công nghệ cao năm 2016 đạt 7,5 tỷ USD. Thực tế này cho thấy Quảng Ngãi cần thay đổi căn bản tư duy phân bổ nguồn lực.

Để lượng hóa xu hướng phát triển, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ chi ngân sách khoa học công nghệ của Quảng Ngãi (0,4%) so với mức bình quân cả nước (1,4% - 1,8%) và bảng tổng hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 - 2016 (ngành công nghiệp - xây dựng giảm từ 58,32% xuống 50,36%, khu vực dịch vụ tăng từ 21,60% lên 28,86%). Việc mô hình hóa số liệu này làm nổi bật yêu cầu cấp bách phải đưa hàm lượng tri thức công nghệ cao vào cơ cấu sản xuất công nghiệp và nông sản chế biến sâu của tỉnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý tài chính và thành lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi. Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp cùng Sở Tài chính và Sở Khoa học và Công nghệ nâng dần tỷ lệ chi ngân sách địa phương từ mức 0,4% lên mức tối thiểu 1,5% đến 2,0% tổng chi ngân sách hàng năm. Áp dụng triệt để phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng dựa trên nghiệm thu thực tế, bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn trích lập tối thiểu 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ nghiên cứu khoa học nội bộ trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, thực hiện đồng bộ cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn với trách nhiệm ứng dụng và thị trường tiêu thụ. Sở Khoa học và Công nghệ giữ vai trò chủ trì điều phối, chuyển trọng tâm từ các đề tài nhỏ lẻ sang các chương trình nghiên cứu liên ngành có địa chỉ ứng dụng rõ ràng. Đặt mục tiêu 100% đề tài cấp tỉnh sử dụng ngân sách phải có cam kết tiếp nhận bằng hợp đồng của cơ quan quản lý hoặc doanh nghiệp, nâng tỷ lệ thương mại hóa các đề tài sau nghiệm thu lên trên 70% trong lộ trình 2018 - 2025.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao. Sở Nội vụ phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 14 huyện, thành phố bố trí đủ biên chế cán bộ chuyên trách công tác khoa học công nghệ theo đúng Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV. Xây dựng chính sách ưu đãi thu hút từ 20 đến 30 chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về làm việc tại địa phương giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư và chuyển giao công nghệ cao trong nông - công nghiệp. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Khoa học và Công nghệ nhân rộng mô hình tỏi Lý Sơn lên quy mô toàn huyện 300 ha, mở rộng vùng mía nguyên liệu 2.000 ha và hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 100 hộ dân sang mô hình trồng nấm hàng hóa. Nâng tỷ trọng vốn xã hội hóa từ khu vực tư nhân trong tổng đầu tư nghiên cứu và phát triển của tỉnh lên trên 40% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại các cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi cùng các địa phương tương đồng). Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để tham mưu hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách 0,4% lên 2,0%, tối ưu hóa quy trình thẩm định đề tài và chuyển đổi sang cơ chế khoán kinh phí sản phẩm.

Thứ hai, ban giám đốc và nhà quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh. Luận văn cung cấp hướng dẫn thực tế về cách tiếp cận gói tài trợ đổi mới công nghệ 6 tỷ đồng, quy trình xác lập 135 quyền sở hữu trí tuệ và phương pháp áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý kinh tế và Quản lý khoa học công nghệ. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hệ thống dữ liệu thực nghiệm chi tiết về 14 huyện thị giai đoạn 2011 - 2016, phương pháp luận nghiên cứu chính sách công và bài học kinh nghiệm từ mô hình quốc tế.

Thứ tư, cán bộ quản lý dự án phát triển nông thôn và khuyến nông - khuyến công. Đây là cẩm nang hữu ích về quy trình triển khai mô hình công nghệ cao vào thực địa như vùng mía 2.000 ha, chuỗi sản xuất tỏi đảo Lý Sơn và mô hình cải tạo đàn trâu 2.000 con tại các huyện miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất trong thực hiện chính sách khoa học công nghệ tại Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016 là gì? Điểm nghẽn chính là nguồn kinh phí phân bổ từ ngân sách tỉnh chỉ đạt 0,4%, thấp hơn mức bình quân cả nước từ 1,4% đến 1,8%. Đi kèm với đó là thủ tục tài chính thanh quyết toán rườm rà và sự thiếu vắng cán bộ chuyên trách tại 14 huyện, thành phố.

Cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng mang lại lợi thế gì cho nhà nghiên cứu? Cơ chế này xóa bỏ việc kiểm soát chi tiết từng hóa đơn, chứng từ phụ, cho phép chủ nhiệm đề tài chủ động điều chỉnh dự toán nội bộ và chỉ nghiệm thu dựa trên kết quả đầu ra thực tế, giúp tiết kiệm hơn 30% thời gian làm thủ tục hành chính.

Mô hình nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ nào mang lại giá trị gia tăng cao nhất tại địa phương? Mô hình canh tác mía trên 2.000 ha tại 3 huyện miền núi tăng năng suất lên 70 - 90 tấn/ha và dự án thâm canh tỏi Lý Sơn đạt 7,1 tấn/ha (tăng 10%), tiết kiệm 50% nước tưới, tạo nền tảng nhân rộng lên toàn huyện với quy mô 300 ha.

Chính sách của Quảng Ngãi có thể rút ra bài học gì từ mô hình Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng? Địa phương cần học tập Đà Nẵng về quy trình đặt hàng nhiệm vụ khoa học theo hướng liên ngành và học tập Thành phố Hồ Chí Minh trong việc duy trì mức đầu tư ngân sách trên 2,24% để thu hút các dự án công nghệ cao đạt sản lượng 7,5 tỷ USD.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Quảng Ngãi được thụ hưởng những chính sách hỗ trợ cụ thể nào? Doanh nghiệp được hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (với 150 đơn vị đã triển khai), nhận hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ cho 182 nhãn hiệu và tiếp cận nguồn kinh phí hỗ trợ đổi mới thiết bị công nghệ với quy mô 6 tỷ đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng thực hiện chính sách khoa học và công nghệ tại tỉnh Quảng Ngãi trên địa bàn 5.152,67 km² với 14 đơn vị cấp huyện giai đoạn 2011 - 2016.
  • Đánh giá khách quan những thành tựu nổi bật trong chuyển giao công nghệ nông nghiệp trên 2.000 ha mía, 7 ha tỏi Lý Sơn và 150 doanh nghiệp đạt chuẩn chất lượng quốc tế.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn cốt lõi về ngân sách khi mức chi chỉ chiếm 0,4% tổng chi địa phương, làm cơ sở khoa học để đề xuất nâng tỷ lệ này lên mức chuẩn 2,0%.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn bao gồm: lập Quỹ khoa học công nghệ, chuyển sang cơ chế đặt hàng sản phẩm, kiện toàn 100% cán bộ cấp huyện và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư.
  • Xác định lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2018 đến năm 2025, mở ra hướng đi bền vững nhằm biến khoa học công nghệ thành đòn bẩy đột phá cho tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp chặt chẽ để thể chế hóa các khuyến nghị của luận văn vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương ngay trong giai đoạn hiện nay.