Chương 1 trình bày những khái niệm liên quan đến nhu cầu tin và người dùng tin trong kỷ nguyên số; những đặc điểm chính của nhu cầu tin khoa học xã hội – nhân văn, các yếu tố tác động đến đáp ứng nhu cầu tin và tiêu chí đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tin trong hoạt động thông tin – thư viện. Khái quát về nhu cầu tin và người dùng tin trong kỷ nguyên số 1. Nhu cầu tin Nhu cầu tin là một dạng nhu cầu tinh thần của con người, là nhu cầu cần có kiến thức về cuộc sống xung quanh như tự nhiên, kinh tế, xã hội. Đây là nhu cầu bậc cao của con người, xuất phát từ phản xạ có định hướng, tức là những phản xạ có được trong đời sống, được hình thành trong những điều kiện nhất định, thường nảy sinh khi “họ cần nắm bắt được những kết quả của một lĩnh vực mà họ quan tâm, khi họ cần nắm bắt được các thông tin dữ kiện, những số liệu và phương pháp cần cho công việc của họ” [2, tr.
Theo từ điển Khoa học Thông tin – Thư viện, nhu cầu tin được định nghĩa là những lỗ hổng về kiến thức của một người; khi đó tùy vào kinh nghiệm, mức độ nhận thức vấn đề mà họ sẽ có những yêu cầu trong việc tìm kiếm để có được câu trả lời. Nếu nhu cầu tin là cấp bách thì việc tìm kiếm có thể sẽ được thực hiện một cách liên tục cho đến khi nhu cầu được đáp ứng [7, tr. Theo tiêu chuẩn Việt Nam về hoạt động thư viện (TCVN 10274:2013): nhu cầu tin là nhu cầu của người sử dụng và những thông tin cần thiết cho công việc cụ thể của bản thân [4]. Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể đi đến kết luận: nhu cầu thông tin là nhu cầu khách quan của con người đối với việc tiếp nhận, xử lý, sử dụng thông tin nhằm mục đích duy trì hoạt động của con người trong xã hội.
Người dùng tin Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin, đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu [2, tr. Người dùng tin trước hết phải là người có nhu cầu tin, là chủ thể của nhu cầu tin. Đồng thời, người có nhu cầu tin chỉ có thể trở thành người dùng tin khi họ sử dụng thông tin hoặc có điều kiện sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo tiêu chuẩn Việt Nam về hoạt động thư viện (TCVN 10274:2013): người dùng tin là người sử dụng cơ sở hạ tầng, dịch vụ hay tài liệu do thư viện cung cấp [4].
Người dùng tin đóng vai trò quan trọng không thể tách rời trong bất kỳ một hệ thống TT-TV nào, là nhân tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin. Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: - Người dùng tin với vai trò là khách hàng được cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin [19]: Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và phát triển của mỗi cá nhân NDT. Chính người dùng tin là nhân tố chủ yếu đưa các sản phẩm và dịch vụ thông tin vào hoạt động, quyết định tới việc hình thành và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin của các cơ quan TT-TV. - Người dùng tin với vai trò là những cộng tác viên góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin [19]: Hiệu quả của các sản phẩm và dịch vụ thông tin chỉ biểu hiện thông qua quá trình sử dụng; Chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin phải do đối tượng sử dụng thẩm định.
Trong quá trình sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin, người dùng tin là người cung cấp những thông tin phản hồi về những ưu, nhược điểm của sản phẩm và dịch vụ thông tin mà họ sử dụng, từ đó tạo cho cơ quan TT-TV có cơ sở thực tiễn để điều chỉnh và cải tiến các sản phẩm và dịch vụ thông tin của mình cho phù hợp với NDT hơn. Chính việc nghiên cứu NDT sẽ giúp cho hoạt động TT-TV có điều kiện để phát triển và phục vụ bạn đọc một cách hiệu quả. Nói cách khác, người dùng tin là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin thông qua dòng thông tin phản hồi. Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phần điều 10 chỉnh hoạt động thông tin của thư viện theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của NDT.
Kỷ nguyên số Kỷ nguyên số (hay còn gọi là thời đại số - digital age) là giai đoạn của sự phát triển nhanh chóng các kỹ thuật tin học nhằm xử lý, bảo quản và truyền tin cũng như sự tiếp cận nhanh chóng của mọi người dân tới các nguồn tin đó [12]. Theo Từ điển Tiếng Anh Collins, kỷ nguyên số là thời kỳ mà một lượng lớn thông tin được phổ biến rộng rãi cho nhiều người, chủ yếu thông qua công nghệ máy tính [6]. Kỷ nguyên số hay còn gọi là kỷ nguyên thông tin là giai đoạn bắt đầu vào những năm 1970 khi có sự ra đời của máy tính cá nhân cùng với những công nghệ ra đời sau đó cung cấp khả năng truyền tải thông tin một cách tự do và nhanh chóng [45]. Trong thời đại kỷ nguyên số với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, con người đứng trước vô vàn sự lựa chọn trong việc khai thác các tài nguyên tri thức.
Sự phát triển của truyền thông và công nghệ đã mang đến cho người sử dụng nhiều nguồn tiếp cận tri thức khác nhau. Bên cạnh cách thức truyền thống với sự tiếp cận trực tiếp qua sách, báo, giờ đây người dùng tin có thể khai thác thông tin thông qua các thiết bị hiện đại như: máy tính, laptop, điện thoại thông minh. Người dùng tin có thể truy cập thông tin từ xa, đọc tài liệu trực tuyến, sử dụng tài liệu số, có thể đọc tài liệu bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu nếu có một thiết bị đầu cuối có kết nối Internet. Với ưu điểm tiện lợi, nhanh gọn, tìm kiếm nhanh, lưu trữ dễ dàng, tra cứu thuận lợi, nguồn thông tin điện tử hiện nay đang tác động lớn đến nhu cầu của người sử dụng.
Có thể thấy rằng, sự phát triển của kỹ thuật công nghệ thông tin truyền thông hiện đại đã giúp giảm thiểu thời gian và thu hẹp khoảng cách, cho phép con người có thể trao đổi thông tin với nhau bằng các cách thức mới. Việc tiếp cận tới kiến thức và thông tin trở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn bao giờ hết. Điều này giúp đẩy nhanh các giao dịch, trao đổi thông tin, nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin, theo đó đem lại lợi ích cho NDT. Nhu cầu tin khoa học xã hội – nhân văn của người dùng tin trong kỷ nguyên số 1.
Đặc điểm chính của nhu cầu tin khoa học xã hội – nhân văn trong kỷ nguyên số Như đã trình bày trong mục 1.1, công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang tác động và thay đổi môi trường thông tin, bao gồm hoạt động tìm kiếm thông tin nói chung và thông tin KHXH-NV nói riêng của người dùng tin. Phần này sẽ khái quát một số đặc điểm chính của nhu cầu tin KHXH-NV trong kỷ nguyên số, bao gồm: nhu cầu về nội dung thông tin KHXH-NV, hình thức thông tin NDT sử dụng, nhu cầu của NDT trong việc tiếp cận, khai thác thông tin. Nhu cầu về nội dung thông tin khoa học xã hội – nhân văn Nhu cầu về nội dung thông tin khoa học xã hội – nhân văn của người dùng tin rất đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Các chủ đề nghiên cứu trong khoa học xã hội thường liên quan đến nhiều ngành học khác nhau, chẳng hạn như địa lý, lịch sử, tâm lý học và xã hội học [7, tr.
Mỗi người dùng tin đều lựa chọn cho mình một vài lĩnh vực nghiên cứu riêng phù hợp với chuyên ngành đào tạo từ các trường đại học hoặc định hình trong quá trình công tác. Một trong những đặc điểm chính phân biệt khoa học xã hội từ các lĩnh vực học thuật khác là tính liên ngành của nó [7, tr. Ngoài việc tìm hiểu các tài liệu chuyên ngành KHXH cụ thể, người dùng tin còn tham khảo những tài liệu về các ngành khoa học liên quan xuất phát từ thực tế ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề mới có độ phức tạp cao, đòi hỏi kiến thức của nhiều ngành mới có thể giải quyết được. Các ngành khoa học ngày càng có sự giao thoa với nhau, người dùng tin không chỉ cần thông tin về ngành KHXH-NV mà họ còn cần thông tin về khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và một số lĩnh vực khác.
Nhu cầu nội dung thông tin đa dạng của NDT trong học tập và nghiên cứu KHXH-NV đòi hỏi các trung tâm thông tin thư viện cần có những chính sách phát triển và hoạt động cung cấp những dịch vụ và nguồn tài nguyên thông tin phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dùng. Hình thức thông tin người dùng tin sử dụng Ngày nay nhu cầu của người dùng tin về tài nguyên thông tin rất cao và đa dạng, hình thức sử dụng các nguồn tài nguyên thông tin không còn chỉ giới hạn trong lĩnh 12 vực các ấn phẩm dạng in truyền thống. Ngoài các tài liệu dưới dạng giấy in, còn có những tài liệu điện tử được khai thác và truy cập thông qua các thiết bị truyền tin hiện đại (điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay) đang ngày càng phát triển và chiếm ưu thế. Chính vì vậy công tác quản lý thư viện đã có những chuyển biến nhằm phục vụ NDT với những hình thức quản lý và cung cấp thông tin mới đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng hoá này.
Trong thời đại công nghệ số, nhu cầu của NDT đã có sự thay đổi rõ rệt so với thời kỳ trước. Thứ nhất, thư viện luôn ứng dụng CNTT để phát triển nguồn tài nguyên điện tử giúp NDT truy cập vào các nguồn tin điện tử toàn văn. Thư viện dần dần biến thành trung tâm các nguồn tài nguyên thông tin điện tử và vẫn duy trì được các chức năng thông thường là phục vụ ấn phẩm cho người sử dụng [21]. Phát triển các nguồn tài nguyên điện tử là một trong những dấu hiệu then chốt quyết định nhiều đến chính sách của thư viện trong kế hoạch tự động hoá, là một trong những xu hướng đặc trưng cho sự phát triển của thư viện trong giai đoạn hiện nay.