Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững tại TP. Long Xuyên, An Giang

Chuyên khảo phân tích Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố long xuyên tỉnh an giang, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

77
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chính sách giảm nghèo bền vững tại TP

Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, nhằm mục tiêu chăm lo đời sống nhân dân và bảo đảm công bằng xã hội. Tại tỉnh An Giang, và đặc biệt là Thành phố Long Xuyên - trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh, công tác này luôn được xem là nhiệm vụ then chốt trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP Long Xuyên. Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu một bước chuyển quan trọng khi địa phương áp dụng chuẩn nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều. Phương pháp này không chỉ đo lường thu nhập mà còn xem xét mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Việc chuyển đổi này giúp nhận diện đối tượng nghèo chính xác hơn, từ đó xây dựng các giải pháp hỗ trợ phù hợp, hướng tới mục tiêu giảm nghèo một cách thực chất và bền vững. Thành ủy Long Xuyên đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TU và UBND thành phố đã có Kế hoạch 54/KH-UBND, thể hiện quyết tâm chính trị cao độ trong việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Các kế hoạch này đặt ra mục tiêu rõ ràng, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban ngành, đoàn thể, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc huy động mọi nguồn lực xã hội để chung tay vì người nghèo. Công tác này không chỉ là trách nhiệm của chính quyền mà còn là sự nghiệp của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và đảm bảo an sinh xã hội Long Xuyên.

1.1. Tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo An Giang

Công tác xóa đói giảm nghèo An Giang được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây là yếu tố nền tảng để ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ xã hội. Thành công trong giảm nghèo không chỉ cải thiện trực tiếp đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận dân cư mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, tại một tỉnh nông nghiệp như An Giang, việc đảm bảo người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, có cơ hội thoát nghèo và vươn lên là điều kiện tiên quyết để xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững.

1.2. Mục tiêu chiến lược trong kế hoạch giảm nghèo Long Xuyên

Trong giai đoạn 2016-2020, kế hoạch giảm nghèo Long Xuyên đặt ra mục tiêu kép: giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo Long Xuyên và đảm bảo kết quả giảm nghèo mang tính bền vững, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo. Cụ thể, thành phố phấn đấu đến cuối năm 2020 không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia và giảm tỷ lệ hộ cận nghèo xuống dưới 3%. Để đạt được mục tiêu này, kế hoạch tập trung vào việc tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận toàn diện các dịch vụ xã hội cơ bản, lồng ghép hiệu quả các chương trình kinh tế - xã hội với chương trình giảm nghèo, và đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ cộng đồng để hỗ trợ người nghèo.

II. Phân tích thách thức trong thực trạng giảm nghèo ở An Giang

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, thực trạng giảm nghèo ở An Giang và cụ thể là TP. Long Xuyên vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới còn cao, đặc biệt khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo Long Xuyên sau khi thoát nghèo vẫn có mức sống mong manh, dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế, thiên tai, dịch bệnh. Bên cạnh đó, sự chồng chéo, phân tán trong hệ thống chính sách cũng là một rào cản. Theo Luận văn của Nguyễn Bảo Quốc (2021), "nhiều chính sách chưa khuyến khích người nghèo tích cực vươn lên thoát nghèo, cơ chế phối hợp, chỉ đạo, điều hành ở các cấp còn nhiều hạn chế". Chính sách đôi khi còn nặng tính bao cấp, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt và hiện vật, vô hình trung tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước ở một bộ phận người dân. Quá trình đô thị hóa nhanh cũng tạo ra áp lực lớn, khiến nhiều hộ dân mất đất sản xuất, khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp và không kịp thích ứng với điều kiện sống mới. Những thách thức này đòi hỏi cần có những giải pháp thoát nghèo bền vững mang tính hệ thống và dài hạn.

2.1. Phân tích nguyên nhân nghèo đói theo chỉ số nghèo đa chiều

Nguyên nhân nghèo tại Long Xuyên mang tính đa dạng, được phản ánh rõ qua chỉ số nghèo đa chiều. Về khách quan, quá trình đô thị hóa thu hẹp đất nông nghiệp, thiên tai, dịch bệnh và biến động giá cả thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân. Về chủ quan, một bộ phận người dân còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, không có tay nghề, năng suất lao động thấp. Theo thống kê, có đến 90% hộ nghèo, cận nghèo sống bằng nghề làm thuê thời vụ, thu nhập bấp bênh. Đáng chú ý, một số hộ còn có tâm lý ỷ lại, chưa chủ động vươn lên. Các chiều thiếu hụt phổ biến nhất bao gồm nhà ở (nhiều hộ ở nhà tạm, thiếu kiên cố), y tế (không có BHYT), và giáo dục (trẻ em bỏ học sớm).

2.2. Khó khăn trong việc phối hợp và triển khai các chính sách

Công tác triển khai các chính sách hỗ trợ người nghèo còn gặp khó khăn do sự thiếu đồng bộ. Việc có quá nhiều chính sách từ nhiều Bộ, ngành khác nhau dẫn đến nguồn lực bị phân tán, trùng lặp về đối tượng và địa bàn. Điều này không chỉ làm tăng chi phí quản lý mà còn giảm hiệu quả tác động thực tế đến người thụ hưởng. Cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể đôi khi chưa chặt chẽ, chưa phát huy hết vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở. Việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết cũng gây lúng túng cho địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện, ảnh hưởng đến tiến độ của kế hoạch giảm nghèo Long Xuyên.

III. Phương pháp tiếp cận toàn diện trong giảm nghèo bền vững

Để vượt qua thách thức và đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững, TP. Long Xuyên đã áp dụng một phương pháp tiếp cận toàn diện, đa chiều. Thay vì chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính, thành phố chú trọng vào việc nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho người nghèo tự vươn lên. Trọng tâm của phương pháp này là tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền và vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể. Một Ban điều hành chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được thành lập từ cấp thành phố đến phường, xã, đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất và phối hợp nhịp nhàng. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh để thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực của người dân, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Các cuộc đối thoại trực tiếp với hộ nghèo, hộ cận nghèo Long Xuyên được tổ chức thường xuyên để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Bên cạnh đó, thành phố tích cực xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững, gắn kết sản xuất với thị trường, giúp người dân có thu nhập ổn định. Cách tiếp cận này đảm bảo các giải pháp thoát nghèo bền vững đi vào thực chất, mang lại hiệu quả lâu dài.

3.1. Nâng cao vai trò của các cấp chính quyền và đoàn thể xã hội

Thành công của chương trình giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. UBND thành phố đã phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang và các phòng ban liên quan ở cấp thành phố. Các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận, vận động và hỗ trợ trực tiếp các hội viên của mình. Sự phối hợp chặt chẽ này giúp các chính sách được triển khai đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo nguồn lực hỗ trợ đến đúng đối tượng và phát huy tác dụng tốt nhất.

3.2. Đẩy mạnh công tác truyền thông và phổ biến chính sách

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách được thực hiện thường xuyên và đa dạng hóa hình thức: qua hệ thống truyền thanh, pano, áp phích, các buổi tọa đàm, hội thảo. Nội dung tuyên truyền tập trung phổ biến các chính sách hỗ trợ người nghèo, giới thiệu các mô hình làm kinh tế giỏi, các tấm gương vượt khó vươn lên. Mục tiêu là làm chuyển biến nhận thức từ bị động sang chủ động, giúp người nghèo hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đó tích cực tham gia vào quá trình giảm nghèo, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Long Xuyên.

3.3. Xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững hiệu quả

Một trong những giải pháp then chốt là xây dựng các mô hình sinh kế bền vững. Điển hình là mô hình được triển khai tại xã Mỹ Khánh, hỗ trợ vốn ban đầu cho 25 hộ nghèo và cận nghèo để chăn nuôi, buôn bán nhỏ. Kết quả cho thấy trên 75% số hộ tham gia đã thoát nghèo. Thành công của mô hình này cho thấy việc hỗ trợ vốn cần đi đôi với hướng dẫn kỹ thuật, tư vấn cách làm ăn và kết nối thị trường. Việc nhân rộng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương là hướng đi đúng đắn để nâng cao đời sống nhân dân một cách bền vững.

IV. Top chính sách hỗ trợ người nghèo hiệu quả tại Long Xuyên

Trong giai đoạn 2016-2020, TP. Long Xuyên đã triển khai đồng bộ và hiệu quả nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, tạo thành một mạng lưới an sinh vững chắc. Các chính sách này được thiết kế để tác động toàn diện lên các chiều thiếu hụt của hộ nghèo, hộ cận nghèo Long Xuyên, không chỉ giải quyết vấn đề thu nhập mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống. Nổi bật nhất là chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở và đào tạo nghề. Việc thực hiện các chính sách này có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các ngân hàng chính sách và các tổ chức xã hội. Điển hình, chính sách nhà ở đã tạo ra bước đột phá với việc xây dựng các khu dân cư "Đại đoàn kết", giải quyết căn cơ vấn đề an cư cho hàng trăm hộ. Chính sách y tế đảm bảo 100% người nghèo, cận nghèo có thẻ bảo hiểm y tế. Các chính sách giáo dục đã mở ra cơ hội học tập cho con em các gia đình khó khăn. Sự thành công trong việc thực thi các chính sách này là minh chứng cho hiệu quả của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại địa phương, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội TP Long Xuyên.

4.1. Hỗ trợ nhà ở y tế giáo dục cho hộ nghèo một cách toàn diện

Chính sách hỗ trợ nhà ở, y tế, giáo dục cho hộ nghèo được triển khai mạnh mẽ. Về nhà ở, thành phố đã xây mới và sửa chữa hàng trăm căn nhà Đại đoàn kết, với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng. Về y tế, gần 8.000 lượt thẻ BHYT cho hộ nghèo và 33.500 lượt thẻ BHYT cho hộ cận nghèo đã được cấp phát, đảm bảo người dân được tiếp cận dịch vụ y tế khi cần thiết. Về giáo dục, hàng nghìn lượt học sinh được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập, cùng với hàng trăm suất học bổng được trao tặng, giúp các em tiếp tục đến trường.

4.2. Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội An Giang và vốn vay ưu đãi

Ngân hàng Chính sách xã hội An Giang chi nhánh Long Xuyên đóng vai trò chủ lực trong việc cung cấp nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Trong giai đoạn 2016-2019, tổng doanh số cho vay đạt hơn 200 tỷ đồng với hơn 7.300 lượt hộ được vay vốn. Các chương trình vay vốn ưu đãi giảm nghèo dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo đã giúp người dân có nguồn lực để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và tăng thu nhập, từng bước thoát nghèo một cách chủ động.

4.3. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn và giải quyết việc làm

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc có một nghề nghiệp ổn định, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn và các đối tượng yếu thế được đặc biệt quan tâm. Thành phố đã tổ chức đào tạo nghề cho hơn 15.000 lao động, giới thiệu và giải quyết việc làm cho trên 30.000 người. Trong đó, hàng trăm lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo đã được học nghề và có việc làm ổn định. Các chương trình này không chỉ trang bị tay nghề mà còn mở ra cơ hội việc làm, là giải pháp thoát nghèo bền vững và lâu dài.

V. Đánh giá kết quả thực tiễn giảm nghèo tại Long Xuyên

Kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn TP. Long Xuyên giai đoạn 2016-2020 đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng, thể hiện rõ hiệu quả của các chủ trương, chính sách và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Thực trạng giảm nghèo ở An Giang, đặc biệt tại Long Xuyên, đã có sự chuyển biến tích cực và rõ nét. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, vượt chỉ tiêu đề ra. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là các hộ nghèo, hộ cận nghèo Long Xuyên, được cải thiện đáng kể. Người dân đã tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Cơ sở hạ tầng ở các vùng ven, khu vực nông thôn được đầu tư nâng cấp, lồng ghép với chương trình phát triển nông thôn mới Long Xuyên, tạo diện mạo mới cho địa phương. Thành công này không chỉ là những con số thống kê mà còn là sự ổn định xã hội, sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân. Đây là nền tảng vững chắc để thành phố tiếp tục thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân và phát triển toàn diện trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Thống kê tỷ lệ hộ nghèo hộ cận nghèo Long Xuyên giảm

Các số liệu thống kê là minh chứng rõ ràng nhất cho thành công của chương trình. Theo báo cáo của Phòng Lao động - TB&XH TP. Long Xuyên, từ 1.567 hộ nghèo (tỷ lệ 2,23%) vào đầu năm 2016, đến cuối năm 2019, thành phố chỉ còn 24 hộ nghèo (tỷ lệ 0,03%). Như vậy, thành phố đã giảm 1.543 hộ nghèo, đạt kết quả vượt bậc. Tỷ lệ hộ cận nghèo cũng giảm từ 3,97% xuống còn 2,87%. Những con số này khẳng định hiệu quả của các giải pháp thoát nghèo bền vững đã được triển khai.

5.2. Tác động của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ, huy động và lồng ghép hiệu quả các nguồn lực. Chương trình không chỉ hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo mà còn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, các dự án phát triển sản xuất. Các hợp phần của chương trình như hỗ trợ sản xuất, đa dạng hóa sinh kế đã giúp người dân thay đổi tư duy, phương thức làm ăn, từng bước vươn lên làm chủ cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội Long Xuyên.

5.3. Cải thiện đời sống và cơ sở hạ tầng cho người dân địa phương

Bên cạnh việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, chất lượng cuộc sống của người dân cũng được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch đạt 100%. Mạng lưới điện, viễn thông phủ sóng rộng khắp. Tỉnh đã hỗ trợ hàng nghìn đầu thu kỹ thuật số, giúp người dân tiếp cận thông tin tốt hơn. Các công trình giao thông, trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng, đặc biệt tại 2 xã Mỹ Khánh và Mỹ Hòa Hưng trong khuôn khổ chương trình phát triển nông thôn mới Long Xuyên, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

04/10/2025
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố long xuyên tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1.1 Về khái niệm nghèo Khái niệm nghèo trên thế giới Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT-XH phong tục tập quán của địa phương” [27]. Theo báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la (1$) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại” [27]. Theo nhóm nghiên cứu của UNDP (Chương trình phát triển liên hợp quốc), UNFPA (Quỹ dân số Liên hợp quốc), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) trong công trình “Xoá giảm nghèo ở Việt Nam-1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế” [20]. Theo báo cáo về tình hình phát triển Thế giới-Tấn công nghèo năm 2000, Ngân hàng Thế giới (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về nghèo: “Nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập và tiêu dùng mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế” [20].

Báo cáo nêu bật “Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa quần áo, ốm đau không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” [20]. Báo cáo chỉ ra “Người nghèo đặc biệt là dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó” [20]. 8 Khái niệm nghèo ở Việt Nam Quan niệm nghèo của Việt Nam là thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok Thái Lan, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH phong tục tập quán của địa phương” [27].

Trên cơ sở quan niệm về nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương xứng đó là hộ nghèo, xã nghèo, vùng nghèo… Quan niệm về nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [16]. Quan niệm về hộ nghèo: “Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [16]. Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: Thu nhập: Đa số những người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp, công việc bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như ăn, mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ.

Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập. cứ như thế, nó tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra được. Y tế-giáo dục: Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc. Người nghèo thường sống ở những nơi có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh.

Do người nghèo có thu 9 nhập thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men, nên tiếp cận các dịch vụ y tế của người nghèo rất thấp. Không có tiếng nói và quyền lực: Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử. Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình.

Tiêu chí xác định chuẩn nghèo: Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định cụ thể như sau: Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đạp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường múc độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đạp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường múc độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thống nhất về mặt định lượng. Mỗi quốc gia khác nhau, mỗi vùng miền khác nhau trong một quốc gia mức sống của người dân cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển KT-XH của quốc gia đó. 10 Trên cơ sở các quan niệm về nghèo, luận văn sử dụng khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”.

Cách tiếp cận này giúp chúng ta nâng cao nhận thức về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cách thức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn.2 Chính sách giảm nghèo Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên đây là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng. Chính sách là quá trình tác động của chủ thể nào đó vào khách thể nào đó để đạt tới mục tiêu mà chủ thể mong muốn. Cách hiểu này tương tự như định nghĩa về “Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý để đạt tới mục tiêu do chính chủ thể quản lý đưa ra”, khi đó chính sách được xem như một công cụ của quá trình quản lý mà chủ thể sử dụng để tác động lên khách thể nhằm đạt tới mục tiêu đã định. Quá trình triển khai chính sách chính là quá trình tác động của người quản lý lên đối tượng bị quản lý [19].

Theo James Anderson (2003) cho rằng “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” [21]. Theo Peter Boothroyd (2003) cho rằng “Chính sách là những quyết định, qui định của Nhà nước (tức là các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương) được cụ thể hoá thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà Nhà nước mong muốn” [21]. Nhà kinh tế Franc Ellis cho rằng, không thể có định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ “chính sách” vì lẽ chính sách có thể được hiểu là đường lối hành động ở nghĩa tầm vĩ mô và có thể được hiểu là các biện pháp tác động, can thiệp của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý. Ông cho rằng: “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem 11 như đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường” [22].

Như vậy có thể thấy rằng: Chính sách là một phạm trù của khoa học quản lý, nó đề cập rất rộng các giải pháp ảnh hưởng, tác động của chủ thể đến khách thể của hệ thống quản lý, có phạm vi rộng từ cấp vĩ mô (quốc gia, chính phủ) tới các cấp địa phương như Tỉnh, Huyện, Xã và tới từng đơn vị KT-XH trong một hệ thống KT-XH xác định. Điểm chung nhất trong khái niệm về chính sách, dù ở cấp độ nào cũng đều phải hiểu rằng chính sách là một trong các công cụ của quản lý. Trong hình thành và vận hành chính sách đều phải có 3 nhóm yếu tố, đó là: Chủ thể, khách thể và mục tiêu của chính sách. Mỗi chính sách đều phải phục vụ cho một hoặc một số mục tiêu nhất định, do một chủ thể nào đó đưa ra và tác động (ảnh hưởng) đến một hoặc một số khách thể (đối tượng hưởng lợi) nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định.

Vì vậy, mỗi chính sách phải có: chủ thể, khách thể và mục tiêu của nó. Chính sách sẽ là vô nghĩa hay không khả thi khi nó không xác định được 3 nhóm nhân tố nói trên, hay nói cách khác là chính sách bắt nguồn từ ý chí của chủ thể, không định được khách thể (đối tượng hưởng lợi) và không đưa ra được mục tiêu cần đạt tới [28]. Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách dùng để chỉ ý định của chính quyền các cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ