Tổng quan nghiên cứu

Huyện Chợ Mới là địa bàn cù lao đặc thù của tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên 369,62 km2, gồm 16 xã và 02 thị trấn, quy mô dân số đạt 308.021 người. Trong cơ cấu dân cư, người Kinh chiếm 99,6%, đồng bào theo đạo Phật giáo Hòa Hảo chiếm 59,6%. Mặc dù điều kiện thổ nhưỡng phù du màu mỡ bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu tạo thuận lợi cho nông nghiệp, song điểm xuất phát của huyện thuần nông này vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Phần lớn lao động nghèo có trình độ học vấn thấp, thiếu tư liệu sản xuất và tay nghề chuyên môn. Vấn đề cốt lõi được đặt ra là tình trạng giảm nghèo thiếu tính bền vững, nguy cơ tái nghèo và phát sinh nghèo mới còn cao do các cú sốc kinh tế và biến đổi khí hậu.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều tại huyện Chợ Mới giai đoạn 2016-2020 dưới góc độ khoa học chính sách công. Trên cơ sở nhận diện những thành tựu cùng các nút thắt thể chế, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng thực thi chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

Ý nghĩa của nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp địa phương nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 14,9% lên 20,5%, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 6,5% lên 13,3%. Kết quả này tạo tiền đề nâng cao thu nhập bình quân và bảo đảm an sinh xã hội cho hơn 3.000 hộ nghèo và cận nghèo trên toàn địa bàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chính sách công hiện đại, tiếp cận chính sách như một chuỗi các quyết định và hành động có chủ đích của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo những mục tiêu xác định. Nghiên cứu kết hợp lý thuyết nghèo đa chiều quốc tế (Multidimensional Poverty Index) và các chủ trương thể chế hóa tại Việt Nam thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội cùng Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm 5 thuật ngữ trọng tâm: nghèo tuyệt đối (chuẩn thu nhập dưới 2 USD/ngày hoặc mức tiêu dùng năng lượng dưới 2.100 kcal/người/ngày), nghèo tương đối, nghèo đa chiều, chính sách công và giảm nghèo bền vững. Tại khu vực nông thôn, chuẩn nghèo giai đoạn nghiên cứu được xác định theo hai tiêu chí: mức thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc có thu nhập trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng nhưng thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản trở lên trong 10 chỉ số thuộc 5 dịch vụ cốt lõi (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh, thông tin).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016-2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang, Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới, Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua các đợt điều tra khảo sát thực địa.

Quy mô mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 18 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 16 xã và 02 thị trấn). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được triển khai nhằm thu thập ý kiến trực tiếp từ 3.060 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo qua các hội nghị tư vấn chính sách, cùng 1.010 lượt cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo từ cấp huyện, xã đến các ấp tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ.

Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp thống kê mô tả định lượng và đối chiếu so sánh trước - sau can thiệp chính sách được lựa chọn. Cách tiếp cận này cho phép lượng hóa chính xác mức độ suy giảm các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội, đồng thời bảo đảm tính khách quan, khoa học trong đánh giá mức độ bao phủ và tác động thực tế của từng dự án giảm nghèo. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện liên tục trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến hết năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất: Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm tạo bước chuyển biến vượt bậc về chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Địa phương đã phối hợp tổ chức 1.153 lớp dạy nghề với 32.296 học viên tham gia. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của huyện tăng mạnh từ 6,5% lên 13,3% (tăng hơn 104%), giải quyết việc làm cho 83.912 lượt lao động, trong đó đưa 191 người đi xuất khẩu lao động tại các thị trường thu nhập cao.

Phát hiện thứ hai: Nguồn vốn tín dụng ưu đãi và chính sách trợ cấp xã hội trở thành điểm tựa tài chính then chốt. Đến sáu tháng đầu năm 2020, Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã cho vay 3.480 hộ với tổng dư nợ đạt 59 tỷ đồng. Trong đó, 600 hộ nghèo vay 12.992 triệu đồng, 805 hộ cận nghèo vay 20.797 triệu đồng, 145 hộ mới thoát nghèo vay 4.667 triệu đồng và 478 học sinh, sinh viên vay 3.702 triệu đồng. Nguồn vốn này hỗ trợ trực tiếp hơn 1.600 lao động có việc làm và tạo điều kiện xây dựng 1.390 công trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn.

Phát hiện thứ ba: Các chính sách hỗ trợ dịch vụ xã hội cơ bản đạt độ bao phủ toàn diện. Huyện đã cấp 64.004 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và 39.262 thẻ cho người cận nghèo, đạt tỷ lệ 100% đối tượng được thụ hưởng. Về giáo dục, 11.473 lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí với tổng kinh phí hơn 3 tỷ đồng. Về nhà ở và năng lượng sinh hoạt, 96 căn nhà theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg được hoàn thành với vốn tỉnh hỗ trợ 960 triệu đồng và vốn đối ứng gia đình 2.970 triệu đồng; Quỹ Vì người nghèo hỗ trợ cất mới 489 căn nhà đại đoàn kết trị giá 18.473 triệu đồng; 19.282 lượt hộ nghèo nhận hỗ trợ tiền điện với kinh phí trên 10 tỷ đồng.

Phát hiện thứ tư: Phát triển mô hình sinh kế gắn liền với thế mạnh đặc thù cù lao. Huyện duy trì và phát triển 11 làng nghề truyền thống được công nhận, thu hút 3.154 hộ và hơn 7.800 lao động với mức thu nhập ổn định từ 80.000 đồng/người/ngày. Các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật mang lại hiệu quả cao, tiêu biểu như mô hình nuôi bò vỗ béo lai Sind tại xã Nhơn Mỹ (hộ ông Nguyễn Văn Dễ nuôi 5 con bò trên diện tích 2.000 m2 cỏ, thu lợi nhuận hàng chục triệu đồng mỗi chu kỳ xuất chuồng).

Thảo luận kết quả

Thành công của chính sách giảm nghèo tại Chợ Mới bắt nguồn từ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, phương thức phân cấp quản lý rõ ràng và cơ chế lồng ghép nguồn lực linh hoạt giữa ngân sách nhà nước với các quỹ vận động xã hội hóa (đạt 83.758 triệu đồng từ Quỹ Vì người nghèo). Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế đáng kể: nguồn lực đầu tư phụ thuộc lớn vào ngân sách cấp trên, liên kết chuỗi giá trị tại 11 làng nghề chưa chặt chẽ, và tâm lý trông chờ ỷ lại vào hỗ trợ trực tiếp vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân.

Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bổ đối tượng cấp thẻ bảo hiểm y tế (gồm 48% hộ nghèo, 30% hộ cận nghèo và 22% hộ nông - lâm - ngư nghiệp mức sống trung bình) cùng bảng thống kê so sánh việc làm (13.200 lao động làm việc trong tỉnh so với 27.772 lao động ngoài tỉnh). So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ giải quyết việc làm ngoài tỉnh cao cho thấy áp lực dịch chuyển lao động lớn, đòi hỏi chính sách giảm nghèo phải chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại chỗ để hạn chế rủi ro an sinh xã hội dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình rà soát và số hóa cơ sở dữ liệu giảm nghèo đa chiều. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 16 xã và 02 thị trấn triển khai phần mềm quản lý định danh hộ nghèo. Mục tiêu đạt độ chính xác 100% trong phân loại 10 chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, hoàn thành trong giai đoạn 2021-2023 nhằm khắc phục triệt để tình trạng bỏ sót hoặc bình xét sai lệch đối tượng.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi gắn với chuỗi giá trị 11 làng nghề truyền thống và kinh tế sinh thái cù lao. Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp Hội Nông dân tăng trưởng nguồn vốn ủy thác từ 15% đến 20% mỗi năm. Nâng hạn mức vay cho các dự án phát triển làng nghề mộc, đan đát, đóng ghe xuồng nhằm tạo việc làm cho thêm 2.000 lao động với mục tiêu thu nhập bình quân vượt mốc 100.000 đồng/người/ngày giai đoạn 2021-2025.

Thứ ba, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng doanh nghiệp. Trường Trung cấp Nghề Chợ Mới và 18 trung tâm học tập cộng đồng chuyển dịch mạnh sang đào tạo các nghề kỹ thuật cao và may công nghiệp. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 25% vào năm 2025, bảo đảm giải quyết việc làm bền vững cho tối thiểu 8.000 lao động mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị công và đổi mới truyền thông chính sách cho cán bộ cơ sở. Ban Chỉ đạo Giảm nghèo bền vững huyện tổ chức tập huấn chuyên sâu định kỳ hằng năm cho 100% cán bộ cấp xã và ban ấp (quy mô trên 1.000 lượt cán bộ). Nội dung tập trung vào kỹ năng xây dựng dự án sinh kế cộng đồng, tư vấn thoát nghèo và ứng dụng nền tảng số hóa trong tuyên truyền chính sách an sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo Giảm nghèo các cấp tại tỉnh An Giang và vùng Tây Nam Bộ. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành chính sách giảm nghèo đa chiều cấp huyện, hỗ trợ trực tiếp cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025.

Nhóm thứ hai: Hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội và các quỹ tài chính vi mô. Công trình phân tích hiệu quả giải ngân 59 tỷ đồng cho 3.480 hộ vay, là tài liệu tham khảo giá trị để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng ưu đãi phù hợp với đặc thù sản xuất nông hộ và làng nghề tiểu thủ công nghiệp.

Nhóm thứ ba: Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Xã hội học. Luận văn là case study điển hình về đánh giá chính sách công cấp địa phương, cung cấp phương pháp luận và số liệu thứ cấp đáng tin cậy phục vụ giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Nhóm thứ tư: Các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp xã hội. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về 11 làng nghề với 3.154 hộ dân, làm cơ sở xây dựng các dự án tài trợ sinh kế, chuyển giao kỹ thuật và kết nối tiêu thụ nông sản bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Chuẩn nghèo đa chiều áp dụng tại huyện Chợ Mới giai đoạn 2016-2020 gồm những tiêu chí nào? Căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo tại Chợ Mới gồm tiêu chí thu nhập từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn và mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh, thông tin). Hộ gia đình thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường trở lên sẽ thuộc diện nghèo đa chiều.

Chính sách tín dụng ưu đãi đã tạo ra những tác động kinh tế cụ thể nào cho người dân? Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã giải ngân 59 tỷ đồng cho 3.480 hộ vay, bao gồm 600 hộ nghèo và 805 hộ cận nghèo. Nguồn vốn này trực tiếp giải quyết việc làm cho hơn 1.600 lao động, hỗ trợ 478 học sinh tiếp tục việc học và hoàn thành 1.390 công trình nước sạch nông thôn.

Kết quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại địa phương đạt được những dấu ấn gì? Toàn huyện đã mở 1.153 lớp dạy nghề cho 32.296 học viên, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 6,5% lên 13,3%. Địa phương đã giải quyết việc làm thành công cho 83.912 lượt lao động, bao gồm 13.200 người làm việc trong tỉnh, 27.772 người ngoài tỉnh và 191 người tham gia xuất khẩu lao động.

Mức độ bao phủ của chính sách bảo hiểm y tế đối với các nhóm yếu thế đạt tỷ lệ bao nhiêu? Chính sách bảo hiểm y tế đạt tỷ lệ bao phủ 100% khi cấp phát miễn phí 64.004 thẻ BHYT cho người nghèo và 39.262 thẻ BHYT cho người cận nghèo. Ngoài ra, huyện hỗ trợ 30% kinh phí mua 29.090 thẻ BHYT cho hộ làm nông nghiệp mức sống trung bình và hỗ trợ điều trị cho 2.248 bệnh nhân hiểm nghèo.

Đặc thù địa lý huyện cù lao đặt ra những thách thức lớn nào cho công tác giảm nghèo? Địa hình cù lao bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu thường xuyên đối mặt nguy cơ sạt lở và biến đổi khí hậu. Đồng thời, 11 làng nghề truyền thống với 3.154 hộ dân còn thiếu vốn mở rộng quy mô, khiến thu nhập bấp bênh và nguy cơ tái nghèo luôn ở mức cao.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực tiễn thực thi chính sách giảm nghèo bền vững theo chuẩn đa chiều tại huyện Chợ Mới giai đoạn 2016-2020.
  • Khẳng định các bước tiến vượt bậc trong công tác đào tạo nghề cho 32.296 học viên, giải quyết việc làm cho 83.912 lượt lao động và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 13,3%.
  • Ghi nhận hiệu quả lan tỏa của nguồn vốn tín dụng chính sách 59 tỷ đồng và thành tựu bao phủ 100% bảo hiểm y tế cho hơn 103.000 lượt người nghèo và cận nghèo.
  • Làm rõ các điểm nghẽn về tính kết nối thị trường tại 11 làng nghề truyền thống và sự phụ thuộc vào nguồn trợ cấp ngân sách cấp trên.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp đột phá về chuẩn hóa dữ liệu, mở rộng tín dụng, đổi mới đào tạo nghề và nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp bức tranh thực chứng hoàn chỉnh về chính sách công cấp huyện, làm tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2021-2025, các cấp chính quyền cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị trên gắn liền với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nâng cao. Kính mời các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và độc giả quan tâm khai thác toàn văn tài liệu để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn địa phương.