Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau khi giải phóng đất nước, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào định hướng xây dựng mô hình phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội, tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội và từng bước cải thiện đời sống nhân dân các bộ tộc Lào. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, nền kinh tế Lào ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì hàng năm từ 7% đến 8%, GDP bình quân đầu người đạt hơn 1.200 USD/năm, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Đi đôi với phát triển kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào chú trọng hoạch định và thực thi các chính sách an sinh xã hội nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện, trong đó chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) giữ vị trí trung tâm.

Đối với bộ máy nhà nước Lào, đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng trực tiếp vận hành hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước tại 18 tỉnh trên cả nước, quyết định hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính. Chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức thể hiện sự chăm lo của Nhà nước, bảo đảm các quyền về chăm sóc sức khỏe, thu nhập và trợ cấp khi gặp rủi ro lao động hoặc khi hết tuổi làm việc. Mặc dù công tác thực thi chính sách đã đạt được nhiều thành tựu, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định đã được Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội nhìn nhận. Từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, đề tài "Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức nước CHDCND Lào từ năm 2014 đến năm 2015" được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách công.

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tổng hợp từ hai nhóm công trình chính:

  1. Nhóm công trình nghiên cứu tại Việt Nam: Các đề tài về quản lý nhà nước đối với BHXH của Trần Xuân Vinh (2001), Nguyễn Văn Tám (2004), Nguyễn Kim Thái (2005), Trần Quốc Túy (2006), Phạm Thanh Huyền (2008), Nguyễn Danh Long (2009); các nghiên cứu về đổi mới và hoàn thiện chính sách BHXH của Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (1996), Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998), Bùi Văn Nhơn (2000), tài liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2007, 2009) và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2006, 2010).
  2. Nhóm công trình nghiên cứu tại Lào: Luận văn của Chăm Pa Vông Pha Chăn (2004) về quản lý nhà nước về BHXH; luận văn của Phongthayvy Khotyotha (2010) về quản lý cán bộ, công chức tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào; luận văn của Phetsamone Soukathaviphone (2010) về BHXH đối với người lao động trong các doanh nghiệp tại Lào. Tác giả nhận định các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở đối tượng chung, phạm vi một tỉnh hoặc mảng doanh nghiệp ngoài nhà nước, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực hiện chính sách BHXH đối với đội ngũ cán bộ, công chức trên phạm vi toàn quốc.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho cán bộ, công chức tại nước CHDCND Lào, đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức nước CHDCND Lào.
  2. Khảo sát thực trạng việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào.
  3. Đề xuất những phương hướng, giải pháp nâng cao việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào trong những năm tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào.
  • Phạm vi không gian: Nước CHDCND Lào (bao gồm 18 tỉnh trên cả nước).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015 (tên đề tài giới hạn trọng tâm thực tiễn từ năm 2014 đến năm 2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên hệ thống các khái niệm và quan điểm khoa học về chính sách công và bảo hiểm xã hội:

  • Chính sách và chính sách công: Tác giả trích dẫn và phân tích định nghĩa của các học giả quốc tế và trong nước, bao gồm James Anderson (chính sách là quá trình hành động có mục đích), William Jenkin (tập hợp các quyết định gắn liền với mục tiêu và giải pháp), Thomas Dye (chính sách công là cái Chính phủ lựa chọn làm hay không làm), William Dunn (sự kết hợp phức tạp giữa các lựa chọn), Peter Aucoin, B. Guy Peters (toàn bộ hoạt động của Nhà nước tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến công dân), khái niệm từ Từ điển Bách khoa Việt Nam và giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội.
  • Thực hiện chính sách công: Được xác định là giai đoạn hiện thực hóa ý đồ chính sách thành kết quả thực tế thông qua bộ máy nhà nước, sử dụng phối hợp các nguồn lực tài chính, công nghệ và con người.
  • Bảo hiểm xã hội: Tiếp cận đa chiều dưới các góc độ pháp lý, kinh tế, chính trị, tài chính, chính sách xã hội; đối chiếu với định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2006 và Luật Bảo hiểm xã hội Lào năm 2013. BHXH được định vị là một bộ phận cốt lõi trong hệ thống bảo đảm xã hội của Lào, bên cạnh chính sách cứu trợ xã hội và chính sách ưu đãi xã hội.
  • Khái niệm cán bộ, công chức: Phân tích sự khác biệt giữa quy định pháp luật của Việt Nam (Luật Cán bộ, công chức năm 2008 phân định rõ cán bộ và công chức) và quy định pháp luật của Lào (theo Điều 2 Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 88/ThT ngày 19/5/2003, khái niệm "cán bộ, công chức" được dùng chung để chỉ công dân Lào được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng từ trung ương đến địa phương và cơ quan đại diện ở nước ngoài, hưởng lương từ ngân sách nhà nước).

Khung văn bản quy phạm pháp luật và quản lý nhà nước của Lào được sử dụng làm cơ sở đối chiếu bao gồm:

  • Pháp lệnh số 178/ThT năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ Lào về bảo hiểm xã hội (văn bản đầu tiên điều chỉnh lĩnh vực này).
  • Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 88/ThT ngày 19/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ Lào.
  • Pháp lệnh số 70/ThT ngày 20/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ Lào (thay thế Pháp lệnh 178/ThT, thành lập 2 hệ thống quản lý độc lập: Cơ quan BHXH cho cán bộ, công chức và Cơ quan BHXH cho doanh nghiệp).
  • Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội CHDCND Lào thông qua ngày 26/8/2013 (bước ngoặt lập pháp hợp nhất 2 cơ quan quản lý thành Cơ quan An sinh xã hội).
  • Nghị định số 138/TTg ngày 04/05/2007 của Chính phủ Lào về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội.
  • Quy định số 02/BCT ngày 17/10/2006 của Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về công tác quản lý cán bộ.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng đường lối, quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh dùng để xử lý dữ liệu và văn bản.
  • Nguồn dữ liệu: Văn bản pháp luật, tài liệu lưu hành nội bộ, báo cáo và số liệu thống kê của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, Quốc hội Lào và các công trình khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính được kết cấu thành 3 chương và 7 tiết.

Chương 1: Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ công chức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về thực thi chính sách công và cơ chế pháp lý - tổ chức của chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức tại Lào:

1. Vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công:

  • Cơ quan thực hiện chính sách: Xác định căn cứ lựa chọn cơ quan chủ chốt chịu trách nhiệm thống nhất điều phối và các cơ quan phối hợp liên đới (thông tin đại chúng, giáo dục, y tế, công an); nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực tài chính, nhân lực, thẩm quyền chuyên môn và nguyên tắc vừa phân công vừa phối hợp giữa các cấp, các ngành.
  • Đối tượng chịu tác động: Phân loại thái độ của đối tượng chính sách thành 3 nhóm: Phục tùng (chấp hành bị động do tính quy phạm bắt buộc), Chấp nhận (thực hiện theo thói quen tôn trọng quyền lực), và Tích cực ủng hộ (tự giác thực hiện do nhận thức rõ quyền lợi và tính đúng đắn).
  • Tuyên truyền, phổ biến chính sách: Phân tích vai trò của công tác truyền thông, giải thích chính sách nhằm tạo sự đồng thuận xã hội và chuyển đổi nhận thức của cán bộ, công chức từ thụ động sang chủ động.
  • Tổ chức quản lý thực hiện: Quy trình chỉ đạo, truyền thông hai chiều dọc - ngang, chế độ báo cáo định kỳ, kiểm tra và điều chỉnh chính sách.

2. Thực tiễn chính sách bảo hiểm xã hội tại CHDCND Lào:

  • Phân tích bản chất, 5 đặc trưng cơ bản (bảo hiểm suốt đời trong và sau lao động; gắn với các rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập; nguyên tắc đóng - hưởng; quỹ tài chính tập trung do ba bên đóng góp; hoạt động theo luật định dưới sự giám sát ba bên) và 4 vai trò của BHXH đối với ổn định đời sống, phát triển nguồn nhân lực và phân phối lại thu nhập quốc dân.
  • Tiến trình lịch sử lập pháp BHXH tại Lào qua các giai đoạn: trước năm 1993 (chỉ có Ban Lao động và Phúc lợi xã hội thuộc Văn phòng Thủ tướng và Bộ Nội vụ); năm 1993 thành lập Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội và ban hành Pháp lệnh 178/ThT; năm 2006 ban hành Pháp lệnh 70/ThT; ngày 26/8/2013 Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội đầu tiên của đất nước.
  • Quy định cụ thể về cơ chế tài chính và các chế độ quyền lợi theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013:
    • Tỷ lệ đóng góp quỹ BHXH quốc gia: Cán bộ, công chức đóng 8% tiền lương cơ sở/tháng; Nhà nước đóng góp hỗ trợ 8,5%/tháng; tổng mức đóng đạt 16,5%.
    • Chế độ điều trị, chữa bệnh: Áp dụng cho bản thân cán bộ, công chức và thân nhân (vợ/chồng, con dưới 18 tuổi hoặc con dưới 23 tuổi đang đi học chưa kết hôn). Điều kiện đóng quỹ từ 1 tháng trở lên đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản; từ 3 tháng trở lên đối với bệnh thông thường và tai nạn ngoài công việc. Trường hợp mất thân nhân được nhận trợ cấp điều trị tâm lý trong thời hạn 3 tháng.
    • Chế độ thai sản, sảy thai: Điều kiện đóng quỹ từ 6 tháng trở lên, thai từ 3 tháng trở lên. Mức trợ cấp một lần bằng 60% tiền lương tính trên mỗi người con. Nghỉ phục hồi sức khỏe được trợ cấp hàng tháng bằng 80% lương bình quân 6 tháng cuối trong thời gian tối đa 3 tháng.
    • Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tai nạn khác: Phân loại thương tật thành 8 hạng (từ Hạng 1 đến Hạng 8). Nghỉ điều trị tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp hưởng trợ cấp mất sức lao động 10% lương bình quân 6 tháng cuối tối đa 6 tháng; tai nạn khác hưởng 60% lương tối đa 6 tháng. Trợ cấp thương tật một lần (Hạng 6-8) bằng tỷ lệ thương tật nhân 12 tháng lương (nếu do tai nạn lao động) hoặc nhân 10 tháng lương (nếu do tai nạn khác). Trợ cấp thương tật hàng tháng (Hạng 1-5) tính theo tỷ lệ thương tật nhân lương bình quân 6 tháng cuối (hoặc nhân 90% lương đối với tai nạn khác). Người chăm sóc thương binh Hạng 1 được nhận trợ cấp chăm sóc suốt đời bằng 70% mức trợ cấp thương binh hàng tháng.
    • Chế độ tử tuất: Trợ cấp mai táng bằng 12 tháng lương bình quân của cán bộ, công chức đã mất; bằng 6 tháng lương đối với vợ/chồng mất; bằng 3 tháng lương đối với con dưới 18 tuổi mất. Trợ cấp gia đình tính bằng lương bình quân 6 tháng cuối nhân 15 năm làm việc (trên 15 năm thì cứ thêm mỗi năm tính tăng tương ứng).
    • Chế độ hưu trí: Điều kiện đủ tuổi nghỉ hưu là nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi và có từ 25 năm công tác trở lên; đối với người làm việc độc hại, thương binh hạng 1-4 hoặc hoạt động trước năm 1975 thì nam từ 55 tuổi, nữ từ 50 tuổi và có 20 năm công tác trở lên. Thời gian đóng quỹ từ 20 đến 25 năm. Trường hợp nghỉ sớm tối đa 3 năm thì mỗi năm nghỉ sớm giảm 1% tỷ lệ hưởng. Tỷ lệ % trợ cấp hưu trí phân theo 3 mốc lịch sử tham gia cách mạng: tham gia từ trước năm 1954 hưởng 80% - 100%; tham gia từ năm 1955 đến năm 1974 hưởng 75% - 90%; tham gia từ năm 1975 trở lại đây hưởng 70% - 85%. Trường hợp chưa đủ điều kiện hưởng hưu hàng tháng nhận trợ cấp một lần bằng 0,5 tháng lương bình quân 6 tháng cuối nhân số năm đóng bảo hiểm.
    • Chế độ trợ cấp thân nhân khi người tham gia BHXH mất: Áp dụng khi đã đóng quỹ từ 5 năm trở lên. Mức trợ cấp hàng tháng cho vợ/chồng (nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi không có thu nhập) là 30% lương tháng cuối của người mất; cho con dưới 18 tuổi là 20%/con (tổng các con không quá 60%); cho bố mẹ (bố từ 60 tuổi, mẹ từ 55 tuổi) là 30%/người (tổng bố mẹ không quá 50%). Tổng trợ cấp thân nhân tối đa không vượt quá 80% tiền lương/tiền hưu của người mất.
Tiêu chí phân loại Hạng thương tật Tỷ lệ thương tật Hình thức chi trả trợ cấp
Nhóm nặng Hạng 1 81% – 100% Hưởng trợ cấp hàng tháng + Trợ cấp người chăm sóc (70%)
Hạng 2 71% – 80% Hưởng trợ cấp hàng tháng
Hạng 3 61% – 70% Hưởng trợ cấp hàng tháng
Hạng 4 51% – 60% Hưởng trợ cấp hàng tháng
Hạng 5 41% – 50% Hưởng trợ cấp hàng tháng
Nhóm nhẹ Hạng 6 31% – 40% Hưởng trợ cấp một lần (10–12 tháng lương theo nguyên nhân)
Hạng 7 21% – 30% Hưởng trợ cấp một lần (10–12 tháng lương theo nguyên nhân)
Hạng 8 1% – 20% Hưởng trợ cấp một lần (10–12 tháng lương theo nguyên nhân)
  • Bộ máy quản lý nhà nước về BHXH tại Lào:
    • Phân tích chức năng, nhiệm vụ quản lý vĩ mô, xây dựng pháp luật, định hướng tài chính, thanh tra - kiểm tra và trách nhiệm bảo hộ, bảo trợ quỹ của Nhà nước.
    • Cơ cấu tổ chức Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội theo Nghị định số 138/TTg ngày 04/05/2007: Gồm Bộ trưởng, 2 Thứ trưởng, 7 Vụ (chứa 29 Phòng), Văn phòng Bộ, Phòng Bảo vệ và Quản lý thiên tai, 2 Cục quản lý chuyên ngành.
    • Các đơn vị trực thuộc gồm: Cục Kế hoạch; Cục Phát triển kỹ năng lao động và trung tâm giới thiệu việc làm; Cục Thanh tra; Cục Tổ chức cán bộ; Văn phòng Bộ; Văn phòng Cục quản lý quỹ bảo hiểm xã hội; Cục Hưu trí, thương tật và tàn tật; cùng 3 trung tâm dạy nghề, 2 trung tâm thương binh đặc biệt, 1 xưởng tay chân giả, Cơ quan Bảo hiểm xã hội khu vực công, Cơ quan Bảo hiểm xã hội khu vực tư, đơn vị thu gom bom mìn chưa nổ và doanh nghiệp dịch vụ việc làm.

Chương 2: Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ công chức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 2 đi vào phân tích các yếu tố thực tế tác động đến việc thực thi chính sách BHXH cho cán bộ, công chức tại Lào:

  • Điều kiện thuận lợi: Tính nhất quán và rõ ràng của hệ thống chính sách. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 tạo hành lang pháp lý áp dụng đồng bộ trên toàn bộ 18 tỉnh của nước Lào. Toàn bộ cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương đều được thụ hưởng đầy đủ 8 chế độ bảo hiểm theo các tiêu chuẩn, định mức công khai, minh bạch.
  • Khắc phục sự chia cắt bộ máy quản lý: Đánh giá bài học thực tiễn từ giai đoạn thực hiện Pháp lệnh 70/ThT năm 2006 khi bộ máy BHXH bị tách đôi thành Cơ quan BHXH cho cán bộ, công chức và Cơ quan BHXH cho doanh nghiệp. Mô hình phân tán này dẫn đến cồng kềnh tổ chức, lãng phí nhân lực và suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước. Việc Luật BHXH năm 2013 quyết định hợp nhất thành một đầu mối duy nhất là Cơ quan An sinh xã hội đã khắc phục triệt để sự phân tán, tạo điều kiện tinh giản và nâng cao hiệu quả quản trị quỹ.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ công chức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong những năm tới

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu và các hạn chế phát hiện từ thực trạng, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Tiếp tục hoàn thiện văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 đồng bộ trong toàn bộ cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể.
  • Kiện toàn mô hình tổ chức của Cơ quan An sinh xã hội sau sáp nhập, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ ngành Lao động và Phúc lợi xã hội.
  • Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách đến cán bộ, công chức tại 18 tỉnh nhằm nâng cao tỷ lệ tham gia và nhận thức về quyền, nghĩa vụ đóng quỹ (mức 8% của cán bộ và 8,5% của Nhà nước).
  • Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý an toàn và bền vững nguồn quỹ BHXH quốc gia.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu và dữ liệu văn bản:

  • Hệ thống hóa khung lý luận chuyên ngành Chính sách công về quy trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, làm rõ vị trí của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội Lào.
  • Khái quát toàn diện tiến trình lập pháp của Lào từ Pháp lệnh số 178/ThT (1993), Pháp lệnh Cán bộ, công chức số 88/ThT (2003), Pháp lệnh số 70/ThT (2006) đến Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 và Nghị định 138/TTg (2007).
  • Trích xuất chi tiết cơ chế đóng góp tài chính (tổng 16,5%, trong đó cán bộ công chức đóng 8%, Nhà nước hỗ trợ 8,5%) và điều kiện, cách tính chi trả của 8 chế độ bảo hiểm cho cán bộ, công chức và thân nhân.
  • Khẳng định tính ưu việt của việc hợp nhất Cơ quan BHXH cán bộ, công chức và Cơ quan BHXH doanh nghiệp thành Cơ quan An sinh xã hội duy nhất theo Luật năm 2013 nhằm tinh giản biên chế và thống nhất quản lý.
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Là công trình đầu tiên nghiên cứu trực diện, hệ thống về việc thực hiện chính sách BHXH chuyên biệt cho đối tượng cán bộ, công chức tại Lào trên quy mô toàn quốc (18 tỉnh), khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào khu vực doanh nghiệp, phạm vi cấp tỉnh hoặc đối tượng lao động nói chung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi thời gian nghiên cứu thực tiễn của đề tài tập trung vào giai đoạn 2013 - 2015 (trọng tâm 2014 - 2015), thời điểm Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 mới bắt đầu đi vào cuộc sống, do đó số liệu phản ánh chủ yếu là tác động thể chế bước đầu; đề tài chưa mở rộng khảo sát so sánh sâu với dữ liệu thực nghiệm tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á ngoài việc liên hệ khái niệm với Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đánh giá tác động dài hạn của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 đối với sự phát triển bền vững của Quỹ An sinh xã hội Lào trong các giai đoạn tiếp theo; tiến hành các nghiên cứu định lượng khảo sát mức độ hài lòng của cán bộ, công chức tại từng địa phương và phân tích cân đối thu - chi quỹ hưu trí trong bối cảnh già hóa dân số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý hành chính công, Luật học, Công tác xã hội và Đông Nam Á học khi tìm hiểu về hệ thống an sinh xã hội và thể chế công vụ của nước CHDCND Lào.
  • Cán bộ quản lý, chuyên viên nghiên cứu chính sách tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, Cơ quan An sinh xã hội Lào, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan tham mưu hoạch định chính sách công.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Hệ thống khái niệm lý luận về thực thi chính sách công; bảng phân tích chi tiết điều kiện và định mức chi trả của 8 chế độ bảo hiểm xã hội; sơ đồ và phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội CHDCND Lào theo Nghị định 138/TTg.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức tại Lào theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013 là bao nhiêu? Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013, hàng tháng mỗi cán bộ, công chức đóng 8% tiền lương cơ sở vào quỹ BHXH quốc gia; đồng thời Nhà nước đóng góp hỗ trợ 8,5%, nâng tổng tỷ lệ đóng góp lên 16,5%.

2. Khái niệm cán bộ, công chức trong hệ thống pháp luật của CHDCND Lào có điểm gì đặc thù so với Việt Nam? Tại Việt Nam, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 phân biệt rạch ròi giữa khái niệm cán bộ (bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ) và công chức (tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh). Tại Lào, theo Điều 2 Pháp lệnh số 88/ThT ngày 19/5/2003, "cán bộ, công chức" là một khái niệm dùng chung, chưa phân biệt riêng rẽ, chỉ toàn bộ công dân Lào được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng cấp trung ương, địa phương và cơ quan đại diện ở nước ngoài, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

3. Mô hình tổ chức cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội tại Lào đã thay đổi như thế nào giữa Pháp lệnh năm 2006 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013? Theo Pháp lệnh số 70/ThT năm 2006, bộ máy quản lý bị tách làm hai cơ quan độc lập: Cơ quan BHXH cho cán bộ, công chức và Cơ quan BHXH cho doanh nghiệp, dẫn đến cồng kềnh và phân tán nguồn lực. Đến Luật Bảo hiểm xã hội năm 2013, Nhà nước Lào đã hợp nhất hai cơ quan này thành một cơ quan thống nhất là Cơ quan An sinh xã hội để tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị.

4. Chế độ hưu trí đối với cán bộ, công chức Lào phân chia tỷ lệ hưởng theo những mốc lịch sử tham gia cách mạng nào? Tỷ lệ hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng được phân định theo 3 mốc:

  • Tham gia cách mạng từ năm 1954 trở về trước: Hưởng tỷ lệ từ 80% đến 100%.
  • Tham gia cách mạng từ năm 1955 đến năm 1974: Hưởng tỷ lệ từ 75% đến 90%.
  • Tham gia cách mạng từ năm 1975 trở lại đây: Hưởng tỷ lệ từ 70% đến 85%.

5. Chế độ thương tật trong chính sách BHXH Lào chia làm mấy hạng và hình thức trợ cấp như thế nào? Thương tật được phân thành 8 hạng:

  • Thương binh Hạng 1 đến Hạng 5 (mức suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 100%): Hưởng trợ cấp thương binh hàng tháng. Riêng người chăm sóc thương binh Hạng 1 được hưởng trợ cấp chăm sóc suốt đời bằng 70% trợ cấp thương binh.
  • Thương binh Hạng 6 đến Hạng 8 (mức suy giảm từ 1% đến 40%): Hưởng trợ cấp thương tật một lần (bằng tỷ lệ thương tật nhân 12 tháng lương đối với tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp, hoặc nhân 10 tháng lương đối với tai nạn khác/bệnh thông thường).

Kết luận

Khóa luận đã làm rõ cơ sở lý luận chuyên ngành Chính sách công và phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức nước CHDCND Lào trong giai đoạn 2014 - 2015. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về các mốc phát triển thể chế, định mức 8 chế độ quyền lợi và cấu trúc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác đào tạo học thuật cũng như quá trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội công vụ tại CHDCND Lào.