Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Một số khái niệm 1. An sinh xã hội ASXH (Social Security) là khái niệm ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới. Tuy nhiên đến nay, khái niệm này vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Theo tác giả Vũ Văn Phúc: “Theo nghĩa rộng, ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa. Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong xã hội trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác” [43, tr. Trong cuốn Giáo trình nhập môn an sinh xã hội, tác giả Nguyễn Hải Hữu quan niệm rằng: ASXH là một hệ thống cơ chế chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho họ có nguy cơ bị sút giảm nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không có sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa…, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXH, BHYT và hỗ trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt [26, tr.
9 Trong cuốn sách Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp, tác giả Lê Quốc Ly cho rằng: “ASXH là đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội trong trường hợp họ gặp phải các rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra an sinh cho mọi thành viên trong xã hội” [30, tr. Từ những quan niệm trên, có thể nhận thấy, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình, cộng đồng để hỗ trợ các thành viên trong xã hội trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Chính sách an sinh xã hội Chính sách xã hội là một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Các chính sách xã hội cơ bản gồm chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; chính sách đối với các giới, chính sách ASXH … Theo tác giả Vũ Văn Phúc: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội” [43, tr.
Tác giả Nguyễn Văn Chiểu cho rằng: “Chính sách ASXH là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các 10 chính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội” [17, tr. Từ quan niệm trên, có thể thấy, chính sách ASXH được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu thập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế xã hội và tự nhiên làm cho họ giảm nhẹ hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa. Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động BHXH, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội. ASXH luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi cho sự phát triển xã hội, nếu có một hệ thống chính sách ASXH đảm bảo sẽ góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế chính trị xã hội ổn định và phát triển bền vững.
Thực hiện chính sách an sinh xã hội Thực hiện chính sách ASXH là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hệ thống ASXH thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra. Đó là quá trình triển khai hệ thống chính sách ASXH (trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, BHXH, BHYT, giải quyết việc làm…) vào thực tiễn bằng các công cụ, bộ máy của nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra. Việc thực hiện chính sách ASXH như thế nào phụ thuộc vào các bộ phận (cơ quan nhà nước hoạch định chính sách ASXH, cơ quan chấp hành thực hiện chính sách ASXH, cộng đồng xã hội tham gia hoạt động ASXH, đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH) và các bước cơ bản trong việc thực hiện chính sách ASXH. Trên thực tế, các bộ phận nói trên nhiều khi không tách biệt độc lập một cách tuyệt đối mà có sự đan xen lồng ghép với nhau (như 11 người hoạch định chính sách ASXH cũng là đối tượng thụ hưởng chính sách…).
Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tổ chức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên. Nội dung và quy trình thực hiện chính sách an sinh xã hội 1. Nội dung chính sách an sinh xã hội Thứ nhất, các chính sách về phát triển thị trường lao động, tạo việc làm Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác. Trên thực tế chất lượng, cơ cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động đã dẫn đến tình trạng nhiều người lao động có chuyên môn kỹ thuật làm việc không đúng trình độ hoặc làm các công việc giản đơn hay bị thất nghiệp trong thời gian qua.
Nhằm khắc phục tình trạng thất nghiệp của người lao động, Nhà nước ban hành các chính sách về việc làm và phát triển thị trường lao động để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới. Trên cơ sở các quy định của Bộ luật Lao động và Luật Việc làm, Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nhằm quy định cụ thể các chính sách về hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho người lao động, nhất là cho các nhóm lao động yếu thế; các chính sách hỗ trợ người lao động thất nghiệp nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động (chính sách bảo hiểm thất 12 nghiệp); các chính sách về tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, định hướng nghề nghiệp, thông tin dự báo thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động; các chính sách BHXH, an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp. góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống cho người dân. Thứ hai, các chính sách bảo hiểm Nằm trong hệ thống ASXH nên BHYT cũng mang một mục đích sâu xa “là một nhân tố ổn định kinh tế vĩ mô vừa là nhân tố động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội”.
BHYT là chính sách đóng góp ba bên (do Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp). Với bất cứ đối tượng tham gia vào một tổ chức, cơ quan sử dụng lao động nào thì đơn vị đó cũng phải có nghĩa vụ chi trả một phần BHYT của người lao động, đó là quyền lợi đã được nhà nước quy định rõ ràng. Ở Việt Nam hiện nay, việc thực hiện chế độ BHYT được thực hiện Luật số 46/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT đã được Quốc hội khóa 13 thông qua và có những nội dung cơ bản như sau: Nguyên tắc BHYT: bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT. Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính.
Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do Quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được nhà nước bảo hộ. Chính sách của Nhà nước ta về BHYT: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng BHYT cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội. Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ Quỹ BHYT để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.