mở đầu quá trình điều tra xử lý TNHS đối với tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, phát động quyền công tố không phải là quyền năng riêng có của VKS. Theo quy định của BLTTHS 2003 Điều 104, BLTTHS 2015 điều 154 các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, bị can bao gồm: CQĐT, VKS, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, kiểm ngư. Trên thực tế, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can chủ yếu do CQĐT các cấp tiến hành, số vụ án VKS trực tiếp khởi tố hầu như không đáng kể.
Tuy vậy, VKS vẫn là cơ quan duy nhất được quyền khởi tố vụ án hình sự một cách độc lập, không chịu sự ràng buộc về mặt cơ chế tố tụng của bất kỳ một cơ quan nhà nước nào. VKS cũng có quyền yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án, bị can để xử lý trước pháp luật; có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đồng thời, VKS cũng có quyền kháng nghị đối với những quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ của Tòa án các cấp. + Những biện pháp áp dụng TNHS đối với người phạm tội gồm có: - Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm 15 giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của CQĐT theo quy định của pháp luật; - Phê chuẩn lệnh khám xét của CQĐT.
+ Những biện pháp xử lý vụ án gồm: - Quyết định truy tố bị can ra Tòa để thực hiện việc xét xử; - Quyết định đình chỉ vụ án, bị can theo quy định của pháp luật. - CQĐT cũng có quyền đình chỉ điều tra vụ án, bị can nhưng phải luôn được đặt dưới sự kiểm sát của VKS. + Những hoạt động THQCT của VKS tại phiên tòa, gồm có: đọc cáo trạng, thẩm vấn, luận tội tại phiên tòa sơ thẩm; phát biểu quan điểm của VKS về hành vi phạm tội của bị cáo có kháng cáo, kháng nghị tại các phiên tòa xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Như vậy, theo quy định của pháp luật, VKS có rất nhiều quyền năng pháp lý cụ thể để THQCT.
Trong số đó, trừ quyền truy tố bị can ra tòa là quyền duy nhất chỉ có ở VKS, các quyền khác thì CQĐT, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền thực hiện. Chính vì vậy, hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm cho rằng, các cơ quan trên cũng THQCT. Ở đây đã có sự nhầm lẫn giữa quyền năng tố tụng với quyền của cơ quan công tố. Chỉ có cơ quan nào sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý cần thiết để truy cứu TNHS đối với người phạm tội mới là cơ quan THQCT.
Ở nước ta chỉ có VKS là cơ quan duy nhất THQCT, CQĐT chỉ là người hỗ trợ VKS đưa vụ án ra tòa, Tòa án chỉ xét xử những tội phạm và người phạm tội mà VKS đã truy tố. Qua những phân tích trên có thể quan niệm, nội dung THQCT là việc VKS sử dụng các quyền năng tố tụng độc lập do pháp luật quy định nhằm truy 16 cứu TNHS đối với người phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội, được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng. Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên về khái nhiệm, phạm vi và nội dung của THQCT, có thể đi đến kết luận về khái niệm, phạm vi và nội dung của THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND như sau: THQCT ở giai đoạn điều tra của VKSND là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. - Khái niệm THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND là: Khi nhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hình thức giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trong các quan hệ điều tra các vụ án NCTN phạm tội.
Cơ sở phát sinh hoạt động của VKSND đó là các quyết định của CQĐT, các hành vi của những người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS. Các quyết định và các hành vi đó có thể được ban hành, thực hiện theo đúng hoặc không đúng quy định của pháp luật. Khi đó nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, nhằm phát hiện những sai phạm, kịp thời đề ra các yêu cầu, kiến nghị các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự được tuân thủ theo các quy định của pháp luật. [25], [27] Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND là một dạng hoạt động 17 thực hiện pháp luật, theo đó VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với NCTN phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi ra quyết định truy tố bị can ra trước Toà án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án do người chưa thành niên phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân - Hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKS có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKS là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành theo pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật thì VKS là cơ quan có chức năng thực hiện QCT và kiểm sát các HĐTP. Thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện quyền tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều 109 BLTTHS 2003 và điều 165 BLTTHS 2015, Với những quy định của pháp luật thì VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết khi THQCT trong giai đoạn điều tra đảm bảo cho việc khởi tố điều tra các vụ án hình sự được tuân theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Thứ hai, Trong hoạt động điều tra, khám phá các vụ án hình sự của CQĐT, trong THQCT và kiểm sát các HĐTP của VKSND, đó là một quá 18 trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan công an và VKS. Đây là những hoạt động rất quan trọng có tính quyết định trong quá trình giải quyết những vụ án hình sự. Chính vì vậy pháp luật TTHS quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục của các hoạt động điều tra, hoạt động giám sát như: Từ việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, các biện pháp điều tra, các biện pháp ngăn chặn, nhập - tách vụ án, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, thời hiệu điều tra, thời hạn điều tra… Tóm lại, tất cả các bước trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND đều được quy định chặt chẽ theo các trình tự thủ tục do pháp luật TTHS hiện hành quy định.
Thứ ba, Các quyết định THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án do NCTN phạm tội của VKSND đã được BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ và đầy đủ. Tại Điều 23 BLTTHS 2003 và điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định: VKS, THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội. Như đã phân tích ở trên, NCTN phạm tội là chủ thể chịu sự tác động của hoạt động của VKS có những đặc điểm mang tính đặc trưng. Đây là những người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tâm lý, trình độ nhận thức còn hạn chế, thiếu bản lĩnh, khả năng kiềm chế chưa cao, dễ bị kích động lôi kéo.
Chính vì vậy khi THQCT đối với NCTN phạm tội, đòi hỏi "Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến 19 người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi" (Điều 415 BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi điều 302 BLTTHS 2003). Như vậy, VKSND với vai trò của KSV thực hiện quyền lực nhà nước phải đảm bảo những yêu cầu về hiểu biết cần thiết của họ trong hoạt động đối với NCTN phạm tội. Có như vậy mới đảm bảo hoạt động của VKSND đối với NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Về trình tự thủ tục đối với NCTN được coi là "thủ tục đặc biệt".