Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN THAM NHŨNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN THAM NHŨNG 1. Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra 1. Khái niệm quyền công tố Trong lịch sử xã hội loài người, quyền công tố xuất hiện gắn với sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật.
Trong bất kỳ xã hội nào, khi đã xuất hiện Nhà nước, bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một hoặc nhiều lực lượng bị thống trị có thái độ, hành động thù địch chống lại lực lượng thống trị, biểu hiện ở những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm đe dọa quyền thống trị của Nhà nước. Muốn trừng trị kẻ vi phạm thì phải buộc tội được họ. Quyền nhân danh Nhà nước, nhân danh công quyền thực hiện sự buộc tội này chính là quyền công tố. Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện quyền công tố, nội dung quyền công tố và phạm vi thực hiện quyền này được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia.
Ngay trong một Nhà nước cụ thể, ở mỗi giai đoạn phát triển có thể có những thay đổi nhất định trong việc tổ chức, xác định phạm vi quyền công tố. Ở Việt Nam, hệ thống VKSND được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1960, bên cạnh chức năng chủ yếu khi đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, Viện kiểm sát thực hiện hoạt động “truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp hình sự” (điểm b Điều 3 của Luật Tổ chức VKSND 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Như vậy chức năng công tố được Viện kiểm sát thực hiện ngay từ khi thành lập. Nhưng khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên được xuất hiện cùng với việc ban hành Hiến pháp 1980, bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”.
Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hai khái niệm này, song vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố. Có thể khái quát một số quan điểm chính sau đây: Quan điểm thứ nhất cho rằng, mọi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố. Những người theo quan điểm này cho rằng công tố không phải là chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [28, tr85-87]. Quan điểm thứ hai cho rằng, QCT là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sá truy tố một kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện sự buộc tội tại phiên toà [37, tr19].
Theo họ, QCT chỉ có trong tố tụng hình sự và cũng chỉ diễn ra ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm thứ ba cho rằng, QCT là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật. Đây là quan điểm chính thống của ngành kiểm sát giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985, được đưa vào chương trình giảng dạy của Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội. Quan điểm thứ tư cho rằng, QCT là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [37, tr10].
Theo quan điểm này, không chỉ Viện kiểm sát mà các cơ quan khác tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Toà án đều được thực hiện QCT. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm thứ năm cho rằng, Công tố là sự cáo buộc của Nhà nước với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hành chính, dân sự, kinh tế và luật hình sự [37, tr. Theo quan điểm này, QCT không chỉ được thực hiện trong tố tụng hình sự mà còn được thực hiện trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hành chính. Quan điểm thứ sáu cho rằng: QCT là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [12, tr 40]. Trên đây là một số quan điểm khác nhau tồn tại khá phổ biến hiện nay về khái niệm QCT. Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý riêng. Tuy vậy, theo ý kiến chúng tôi, các quan điểm từ thứ nhất đến thứ năm còn những bất cập nhất định nhìn từ khía cạnh quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn, thể hiện: Hoặc là coi QCT chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến xem nhẹ bản chất của QCT như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát được Nhà nước ủy quyền; Hoặc là thu hẹp phạm vi QCT, chỉ bó gọn QCT trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; Hoặc là đánh đồng QCT với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, dẫn đến mở rộng phạm vi QCT sang cả lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ sáu về quyền công tố vì những lý do sau: Để xác định khái niệm QCT, theo chúng tôi cần lấy việc nghiên cứu lịch sử Nhà nước và Pháp luật làm xuất phát điểm. Nhà nước ra đời luôn là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại diện chính thức cho xã hội. Bất cứ xã hội nào cũng đều tồn tại hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản: Nhóm quan hệ thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ thể hiện lợi ích từng công dân.
Nhà nước luôn có trách nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung và trừng phạt những hành vi xâm phạm quan hệ xã hội này. Muốn trừng trị kẻ vi phạm phải buộc tội được họ. Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội này chính là QCT. QCT thực chất là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Để làm được điều đó, Nhà nước ủy quyền cho cơ quan cụ thể trong bộ máy cơ quan nhà nước thực hiện quyền này. Cơ quan được giao nhiệm vụ THQCT phải điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. Ngoài ra để hiểu rõ thêm về QCT, cần xem xét thêm khái niệm tư tố. Tư tố và công tố là hai khái niệm cùng xuất hiện, tồn tại phát triển và có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tư tố là chế định pháp lý cho phép người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người đã thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Sự ra đời của chế định tư tố xuất phát từ quan niệm của người xưa cho rằng việc bảo vệ các quyền và lợi ích của cá nhân bị người khác xâm hại là quyền riêng tư của mỗi người, Nhà nước không cần thiết và không có trách nhiệm phải can thiệp vào những việc đó. Trong điều kiện như vậy QCT chỉ được sử dụng trong một phạm vi hạn hẹp nhằm bảo vệ các lợi ích có tính chất công. Tuy nhiên thực tế cho thấy, để tiến hành một vụ án hình sự phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền của cho quá trình thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa án, điều này không phải ai cũng có điều kiện thực hiện.
Mặt khác, việc pháp luật cho phép người bị hại có quyền hòa giải với người phạm tội dẫn đến có nhiều vụ án nghiêm trọng không bị xét xử và trừng phạt, không đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Chính từ thực tế này, cùng với sự phát 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển của xã hội, dần dần Nhà nước thấy cần can thiệp vào quá trình giải quyết các vụ án tư tố, sử dụng QCT để bảo vệ trật tự và công bằng xã hội. Do vậy quyền tư tố ngày càng thu hẹp, hầu hết ở các quốc gia quyền tư tố chỉ còn tồn tại ở một số tội và thông thường dừng lại ở việc người bị hại yêu cầu khởi tố vụ án, cung cấp chứng cứ, yêu cầu bồi thường thiệt hại, thực hiện việc buộc tội bị cáo trước tòa và ngay cả trong các trường hợp này sự buộc tội của họ cũng chỉ là phụ bên cạnh sự buộc tội của cơ quan công tố. Từ những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng, QCT là quyền của cơ quan nhà nước được Nhà nước ủy quyền (ở Việt Nam Nhà nước ủy quyền cho Viện kiểm sát), nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó.
Về đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố: Do còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về QCT nên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng, nội dung và phạm vi của QCT. Với nhận thức về QCT như đã nêu ở trên, chúng tôi quan niệm: Đối tượng của QCT chỉ là tội phạm và người phạm tội. Nội dung của QCT chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm. Phạm vi QCT bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra THQCT ở giai đoạn điều tra là một bộ phận cấu thành hoạt động THQCT của VKSND. Bởi vậy, để đi đến khái niệm thống nhất về THQCT trong giai đoạn điều tra, làm rõ đối tượng, nội dung và phạm vi của hoạt động này, trước hết cần làm rõ một số vấn đề về THQCT nói chung, đó là khái niệm, đối tượng, nội dung và phạm vi của THQCT.