Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố Với quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, nhân danh công quyền, thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội, theo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, lúc nào Nhà nước xuất hiện thì lúc đó quyền công tố cũng xuất hiện.
Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố. Mỗi quan điểm đều có hạt nhân hợp lý riêng của nó. Chẳng hạn: có quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát (VKS) truy tố người phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) [41]. Điều đáng chú ý của quan điểm này là việc nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hành quyền công tố và chỉ duy nhất là tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức chỉ là việc truy tố và buộc tội tại phiên tòa).
Chúng tôi nhận thấy, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền này. Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một số nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một trong số các quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố. Các luật gia theo truyền thống pháp luật Pháp Quan cho rằng, quyền công tố gồm các quyền khởi tố, điều tra vụ án hình sự, truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án.Quyền công tố gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước. Do vậy, quyền công tố chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực TTHS, chủ thể tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm Cơ quan điều tra (Điều tra viên) và Viện công tố (Công tố viên).
Riêng quyền truy tố kẻ 8 phạm tội ra Tòa và thực hành quyền công tố nhân danh Nhà nước tại phiên tòa chỉ thuộc về Viện công tố. Quyền công tố được sử dụng không chỉ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội mà cả lợi ích cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại. Quan điểm khác cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự.
Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội[42, tr. Theo ý kiến tôi, quan điểm nêu trên đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới: mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến lợi ích chung của toàn xã hội, do đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự. Việc truy cứu TNHS và áp dụng chế tài đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước (Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố, Cơ quan xét xử, Cơ quan thi hành án). Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các chức năng buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự.
Mỗi một chức năng cơ bản trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình tố tụng. Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ có Cơ quan điều tra và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều là chủ thể thực hành quyền công tố. Có quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở 9 đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [42, tr. Và còn nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến thế nào là quyền công tố. Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác, chúng tôi cho rằng, để làm rõ khái niệm quyền công tố, cần khẳng định một số vấn đề sau: Thứ nhất, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, quyền thuộc về Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan cụ thể thực hiện quyền này (ở nước ta là cơ quan VKS) trong bộ máy cơ quan Nhà nước phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng.
Thứ hai, quyền công tố về thực chất là quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. Thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện khi có một tội phạm cụ thể xảy ra và đối với người phạm tội cụ thể, không tồn tại quyền công tố chung chung.
Trong các quan điểm nêu trên, tôi đồng ý với quan điểm thứ tư vì quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà lịch sử của nó gắn liền với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại tội phạm, đó là lĩnh vực TTHS. Điều đó thể hiện rõ nhất trong các nguyên tắc của TTHS. Một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động TTHS là nguyên tắc công tố (nguyên tắc mọi hoạt động tố tụng được tiến hành trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội), nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội làm hoạt động TTHS xuất hiện và phát triển từ giai đoạn này đến giai đoạn khác và không lệ thuộc vào ý chí của người tham gia vào hoạt động TTHS (người bị hại, bị can, bị 10 cáo…).
Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật hình sự Người phạm tội xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, và lợi ích người bị hại. Vì vậy, Nhà nước nhân danh xã hội cho mình quyền trừng phạt người phạm tội. Quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng, cốt lõi của TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội [22, tr. Trong hoạt động TTHS, chúng ta thấy luôn luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử.
Buộc tội với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Người hoặc cơ quan thực hiện chức năng buộc tội quyền và trách nhiệm đưa ra cáo buộc cụ thể đối với người phạm tội (có thể là cá nhân, pháp nhân) cụ thể và phải có nhiệm vụ đưa ra những bằng chứng cụ thể cho sự việc buộc tội đó. Khi thực hiện chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng. Trong nghiên cứu khoa học pháp lý về quyền công tố, để chứng minh cho luận điểm của mình, mỗi nhà khoa học đều có những lý luận riêng để đưa ra những luận điểm về đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố.
Theo quan điểm chúng tôi đã chọn thì đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố được hiểu như sau: + Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như để nhằm buộc được tội của người phạm tội để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại… Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu TNHS) đối với người phạm tội, chúng tôi quan niệm đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội [42, tr. + Về nội dung của quyền công tố: Có thể nói, có bao nhiêu quan điểm về quyền công tố thì cũng có bấy nhiêu quan niệm về nội dung của quyền công tố. Tuy nhiên, trên cơ sở quan điểm của mình về quyền công tố đã được nêu ở trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm [42, tr. 11 Ngoài ra, khi bàn về vấn đề nội dung quyền công tố, có những ý kiến cho rằng, nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp tất cả các quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan ngườivô tội.
Chúng tôi cho rằng, quan niệm này đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung hoạt động thực hành quyền công tố.