Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYÊN THỊ THẢO TRUYỀN THÔNG - GIÁO DỤC sức KHỎE TÊN ĐỀ TÀI THÚC ĐẨY Sự CHỦ ĐỘNG CỦA THANH NIÊN TRONG TÌM KIÉM THÔNG TIN VÀ TIÉP CẬN DỊCH vụ AN TOÀN VÈ sức KHỎE SINH SẢN, sức KHỎE TÌNH DỤC TẠI HÀ NỘI, 2016 dẫn khoa học Thạc sỹ Nguyễn Thái Quỳnh Chi Chữ ký Hà Nội, 2015 i LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Y tế Công cộng đã tạo cơ hội và điều kiện cho tôi cho thực hiện học phần tốt nghiệp năm 2015. Xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thái Quỳnh Chi. giảng viên khoa Khoa học hành vi, xã hội và giáo dục sức khỏe, Trường Đại học Y te Công cộng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bao tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề cương dự án can thiệp này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã hỗ trợ, chia sẻ và động viên tôi trong quá trình hoàn thiện học phần này.
Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015 2 L Thông tin dự án o Tên dự án: ' Thúc đẩy sự chủ động tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ an toàn về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên tại Hà Nội, năm 2016" o Cơ quan chù quản: ƯBND quận Hai Bà Trung, thành phố Hà Nội ■ Địa chỉ: 30 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội ■ Số điện thoại: 043 9780 364 o Tổ chức tài trợ: Plan Parenthood, CCIHP o Cơ quan chủ trì dự án: Trường Đại học Y tế Công cộng ■ Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội ■ Số điện thoại: 046 266 2299 o Thời gian: Bắt đầu từ 1/1/2016 đến 31/12/2016 o Địa điểm thực hiện dự án: quận Hai Bà Trưng o Tổng dự trù kinh phí dự án: 943,580,000 VNĐ 3 DANH MỤC VIẾT TÁT CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản CCIHP Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số CBDA Cán bộ dự án HIV/AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ICPD Hội nghị quốc tế về phát triển dân số IEC Thông tin, Giáo dục, Truyền thông KHHGD Kế hoạch hóa gia đình SKSS, SKTD Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục TLTT Tài liệu truyền thông VTN-TN Vị thành niên, thanh niên UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc VINAFPA Hiệp hội Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam YTCC Y tế công cộng 4 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN. Thông tin dự án.ii DANH MỤC VIẾT TẮT. Nội dung dự án. Bối cảnh và sự cần thiết của dự án.
Ỷ tưởng dân đến dự án. Mô tá ngắn gọn vị trí địa lý, tình hình kinh té-xã hội - y tế. Vấn đề sức khoè cần được ưu tiên lựachọn để xây dựng dự án:. Phân tích các bên liên quan.
Mục tiêu dự án. Mục tiêu chung. Mục tiêu cụ thể. Phương pháp triển khai dự án.
Địa điểm can thiệp. Phương pháp chọn mâu. Cách tiếp cận đổi tượng. Nội dung can thiệp.
Các kết quả mong đợi và đầu ra của dự án. Phương án tổ chức, thực hiện dự án. Các nguồn lực cần thiết của dự án. Phân tích hiệu quả của dự án.
Các đối tượng hưởng lợi. Hiệu quả kinh tế. Hiệu quả xã hội. Tính bền vững của dự án.
39 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Nội dung dự án Một số định nghĩa liên quan Sức khỏe sinh sản Theo Tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe sinh sản là trạng thái thoải mái về thế chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó [6]. Như vậy sức khỏe sinh sản bao hàm ý nghĩa là mọi người đều có thể có một cuộc sống tình dục được thỏa mãn, có trách nhiệm và an toàn đồng thời họ phải có khả năng sinh sản và sự tự do lựa chọn việc có sinh con hay không, thời điểm sinh con và số con. Định nghĩa này cũng bao hàm cả quyền của phụ nừ và nam giới phải được thông tin, tư vấn đầy đủ và được tiếp cận với các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, phù hợp với khả năng và chấp nhận được theo sự lựa chọn của bản thân họ, và quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người phụ nữ mang thai cũng như sinh đẻ an toàn [4].
Sức khỏe tình dục Theo tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe tình dục là trạng thái thoải mái về thể chất, tình cảm, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động tình dục chứ không phải chỉ là không có bệnh, hoạt động bất thường hay yếu ớt. Sức khỏe tình dục đòi hỏi cách tiếp cận tích cực và tôn trọng đối với hoạt động tình dục và các mối quan hệ giới tính, cũng như khả năng có được cuộc sổng tình dục an toàn và khoái cảm, không bị cưỡng bức, phân biệt và bạo lực. Đe có và duy trì sức khỏe tình dục, các quyền về tình dục của tất cả mọi người phải được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo [13]. Sự chủ động Sự chủ động là tự mình quyêt định hành động, không bị chi phôi bởi người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài (Từ điển Tiếng Việt).
2 Trong tiếng Anh chủ động là proactive có nghĩa là kiểm soát mọi tình huông bằng cách làm/khiến sự việc diễn ra hơn là chờ cho sự việc diễn ra và phản ứng lại. Sự tự chủ (self-efficacy) Khái niệm sự tự chủ được xây dựng bởi Giáo sư Albery Bandura. Sự tự chủ là niềm tin của một người về khả năng của bản thân thực hiện hiệu quả các hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đến các sự kiện trong cuộc sống của họ. Niềm tin sự tự chủ quyết định cách họ cảm nhận, suy nghĩ, thúc đẩy bản thân, và cách cư xử.
Sự tự chủ càng mạnh thì mục tiêu đặt ra cho bản thân họ càng cao hơn và tính cam kêt lâu dài bền vững horn [17]. Sự tự chủ bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố; Kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm gián tiếp, sự thuyết phục, cảm xúc [17, 18], 1. Bổi cảnh và sự cẩn thiết của dự án 1. Ỷ tưởng dẫn đến dự án Việt Nam đang trải qua những thay đổi đáng kể trong cơ cấu nhân khẩu học và kinh tế xã hội, trong đó vị thành niên và thanh niên dưới 25 tuổi chiếm hơn 40% dân số, là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước [7].
Theo Ket quả khảo sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên năm 2014, thế hệ trẻ hiện nay đang sống trong môi trường xà hội mới có nhiều cơ hội để phát triển song cũng có không ít nguy cơ và thách thức, trong đó có nguy cơ về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; tỷ lệ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục bao gồm cả HIV/A1DS, mang thai sớm, mang thai ngoài ý muốn, phá thai của vị thành niên, thanh niên chưa lập gia đình ở mức cao. Thực trạng này đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng và kéo dài đối với một bộ phận VTN- TN cũng như gia đình và xã hội; làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Bên cạnh đó, sự chủ động của thanh niên trong việc tìm kiếm các thông tin về SKSS, SKTD và tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD còn thấp. Theo 3 điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2009 cho thấy 30% người trong độ tuổi 14-24 thiếu kiến thức và thụ động trong tiêp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD [9].
Một trong nhũng hậu quả mà thanh niên đang phải đối mặt đó là kiến thức và kỹ năng về chăm sóc SKSS, SKTD còn thấp. Chỉ có 42,5% vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14 - 24 có kiến thức toàn diện về lây nhiễm HIV, thấp hon nhiều so với mục tiêu quốc gia là 95% vào năm 2010 [27], Chính vấn đề này đã dẫn đến các hệ quả như mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay mang thai ngoài ý muốn. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, UNICEF và UNFPA năm 2011, tỷ lệ sinh con ở tuổi vị thành niên ở Việt Nam nói chung là 46/1000 [7], cao hon nhiều so với các nước khác ở châu Á [3]. Cùng với đó, theo báo cáo của Hiệp hội Kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam (VINAFPA) và Bộ Y tế, khoảng 10 - 20% số trường hợp nạo phá thai là những cô gái chưa lập gia đình.
Tuy nhiên, con số thống kê này mới chỉ thu thập tại các cơ sở y tê công. Thực tế, tỷ lệ nạo phá thai ở VTN-TN còn cao hơn do chủ yếu VTN-TN tìm đến các cơ sở tư nhân với hi vọng được bảo mật thông tin cao hon. Một số giói thiệu chương trình về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục Ngân sách Chính phủ dành cho các chương trình và dịch vụ về CSSKSS của VTN- TN còn rất hạn chế [24]. Mặc dù Chính phủ ưu tiên chăm sóc SKSS, SKTD của vị thành niên và thanh niên, các thống kê y tế hàng năm vẫn chưa cập nhật được dữ liệu về các cơ sở y tế hiện đang cung cấp thông tin vê SKSS, SKTD, giáo dục và tư vấn cho vị thành niên và thanh niên [22], Chương trình hành động ICPD 1994 được coi như một dấu mốc lớn về việc mở rộng SKSS, SKTD là một vấn đề cần được quan tâm.
Trong khoảng thời gian hơn 10 năm, Chính phủ Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế đã thực hiện nhiều mô hình can thiệp thí điểm để nâng cao kiến thức và nhận thức của VTN-TN về SKSS, phòng chống HIV và tiếp cận dịch vụ can thiệp. Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho Bộ Giáo dục và Đạo tạo liên tục từ 1997 để chuyển hướng giáo dục ở các cấp tiểu học và trung 4 học cơ sở sang giáo dục về SKSS vị thành niên cho phù hợp hơn [29] và thí điểm tích hợp giáo dục SKSS vào chương trình giảng dạy của hệ phổ thông trung học, các trường cao đẳng và đại học sư phạm ở cấp Trung Ương [29].