Phần mở đầu: Nêu nên tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, nêu giả thuyết nghiên cứu. CHƢƠNG I: Tổng quan nghiên cứu: Bao gồm nêu nên cơ sở lý luận của đề tài và nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam CHƢƠNG II: Nội dung, phƣơng pháp nghiêu cứu: Trình bày về các nội dung chính, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp triển khai nghiên cứu. CHƢƠNG III: Kết quả và phân tích: Trình bày chi tiết và phân tích những kết quả nghiên cứu theo những nội dung nghiên cứu đã đề ra. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đồng thời đánh giá lại kết quả nghiên cứu so với mục tiêu ban đầu, đề xuất các hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Mộ số khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường (PES): Là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc pháp lý và với hợp đồng này thì một hay vài ngƣời mua chi trả cho hệ sinh thái xác định bằng cách trả tiền mặt hay các hỗ trợ cho một hoặc nhiều ngƣời bán và ngƣời bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thỏa thuận (xem [29, trang 12]). Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nƣớc, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên.
Môi trƣờng rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con ngƣời, gọi là giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lƣu giữ các bon, du lịch, nơi cƣ trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác (xem [6, trang 2]). Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm: (i) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; (ii) Điều tiết và duy trì nguồn nƣớc cho sản xuất và đời sống xã hội; (iii) Hấp thụ và lƣu trữ các bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền vững; (iv) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; (v) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nƣớc từ rừng cho nuôi trồng thủy sản (xem [6, trang 2]). Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng. Theo quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP sẽ có 02 hình thức chi trả đƣợc áp dụng là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp (xem [6, trang 2]).
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (xem [1, trang 6]). Ứng phó với BĐKH: Là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Nhƣ vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (xem [1, trang 6]).
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải khí nhà kính (xem [1, trang 6]). Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (xem [1, trang 6]). Một số cơ chế chính sách liên quan đến chi trả DVMTR đã ban hành tại Việt Nam Việc thành lập và quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) đƣợc quy định chi tiết trong Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của Quỹ là tiếp nhận và quản lý các nguồn tài chính theo quy định, trong đó bao gồm tiền chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (DVMTR).
Hệ thống Quỹ BVPTR đƣợc thành lập theo 03 cấp: Cấp Trung ƣơng, cấp tỉnh và cấp xã ở những xã có rừng. Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng năm 2008 và 2009. Đây là hai tỉnh làm thí điểm thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng, làm cơ sở để triển khai nhân rộng trên cả nƣớc. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/ND-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng và có hiệu lực thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/1/2011.
Theo các điều khoản của Nghị định (Điều 4, 7 và 11) bắt đầu từ 1/1/2011, ba loại dịch vụ môi trƣờng rừng sẽ đƣợc chi trả gồm: (a) bảo tồn đất, chống xói mòn và hạn chế bồi lắng lòng sông, suối, hồ; (b) điều tiết và duy trì nguồn nƣớc; (c) bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng. Có ba đối tƣợng chi trả cho các dịch vụ môi trƣờng rừng, gồm: (a) các cơ sở sản xuất thủy điện; (b) doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nƣớc sạch; và (c) tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch dựa vào hệ sinh thái rừng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Ở cấp địa phương (tỉnh Lào Cai) Thực hiện Nghị định 99/2010/ND-CP ngày 24/9/2010, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai đƣợc thành lập tại Quyết định số 3719/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh Lào Cai. Theo đó, Quỹ BV&PTR là cơ quan đầu mối, kết nối giữa những chủ thể thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng (nhà máy thủy điện, công ty du lịch,.) và những chủ thể nhận chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng, chủ rừng là hộ nông dân,.
Quyết định số: 31/2013/QĐ-UBND ngày 13 tháng 08 năm 2013 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quy định này quy định về hồ sơ thanh toán, trình tự, thủ tục đối với các chủ rừng thuộc lƣu vực các nhà máy thủy điện đã phát điện và ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trƣờng rừng (DVMTR). Tổng quan nghiên cứu. Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng 1.
Các nghiên cứu trên thế giới Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for ecosysterm servieces - PES) hay còn gọi là chi trả dịch vụ môi trƣờng. Trên thế giới PES đã đƣợc chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 và đến nay đã đƣợc đề cập và thực thi ở nhiều nƣớc, nhiều khu vực trên thế giới. PES triển khai sớm nhất ở Mỹ la tinh, châu u, châu Phi. PES cũng đã đƣợc phát triển và thực hiện thí điểm tại nhiều nƣớc châu Á nhƣ Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal…đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về PES đối với quản lý lƣu vực đầu nguồn.
Ở châu u, chính phủ một số nƣớc đã quan tâm đầu tƣ và thực hiện nhiều chƣơng trình, mô hình PES. Ở châu Úc, Australia đã luật hóa quyền phát thải Carbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tƣ đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng (xem [7, trang 11]). PES ở châu u: Tại Pháp, công ty nƣớc đóng chai Perrier Vittel đã cung cấp tài chính cho nông dân ở vùng đầu nguồn và vùng lọc nƣớc để xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ. Chính phủ Đức đã đầu tƣ một loạt chƣơng trình để chi trả cho các chủ đất tƣ nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cƣờng hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái.
Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau tồn đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nƣớc Mỹ La tinh, gồm Honduras, Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hoà Dominica (xem [11, trang 14]). Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chƣơng trình PES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cƣờng cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ Carbon và tạo cảnh quan đẹp… Một số nghiên cứu khác tập trung vào việc phát triển thị trƣờng carbon nhƣ: Cái nhìn từ tƣơng lai: Hiện trạng của thị trƣờng các bon tự nguyện; Hiện trạng và xu thế thị trƣờng carbon hoặc các công trình nghiên cứu về cách đo đạc, thẩm tra và xác định chất lƣợng dịch vụ hệ sinh thái rừng nhƣ: Hƣớng dẫn đo carbon rừng Điều tra rừng và sổ tay các phƣơng pháp phân tích đất; Những nghiên cứu này đã đóng góp phần không nhỏ trong quá trình xây dựng hệ phƣơng pháp luận về cách đo đạc, giám sát, thẩm tra chất lƣợng rừng và dịch vụ môi trƣờng rừng. Thông qua kết quả các chƣơng trình, dự án kể trên, PES đƣợc đánh giá là một cơ chế có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs), đƣợc xem nhƣ một cơ chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì một thế giới phát triển bền vững hơn, trong bối cảnh BĐKH. Ở Bakun (Philippines), Chính phủ công nhận các quyền sở hữu không chính thức về đất đai do tổ tiên để lại.
BITO (một tổ chức của ngƣời dân bản địa) đã đƣợc giao đất và thực hiện kế hoạch quản lý. Việc đƣợc giao đất ở Bakun đƣợc xem là một hoạt động chi trả cho việc quản lý đất bền vững.