Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 1. Khái niệm thừa kế Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Thừa kế là tất yếu của xã hội tư hữu.
Trong nghiên cứu của mình Ph.Ăngghen đã viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ [1, tr. Theo quan niệm truyền thống, thừa kế được hiểu là việc người đang còn sống thừa hưởng tài sản của người đã chết. Theo Từ điển Tiếng Việt thì: "Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho" [14, tr.
Theo Từ điển Luật học thì: "Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật" [45, tr. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại Học Luật Hà Nội định nghĩa: "Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống" [42, tr. Như vậy, theo cách hiểu, định nghĩa trên thì bản chất của thừa kế chính là sự dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho tổ chức, cá nhân có quyền hưởng thừa kế và người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đó là sự tiếp nối giữa việc để lại di sản của người đã chết với việc nhận di sản của người còn sống và sự tiếp nối này luôn làm phát sinh các quan hệ sở hữu về tài sản.
Do 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, thừa kế và sở hữu luôn tồn tại song song, gắn bó và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thừa kế là một phạm trù kinh tế vì nó luôn gắn với tài sản và quyền sở hữu tài sản. Thừa kế cũng là một phạm trù pháp luật vì nó phản ánh và điều chỉnh quan hệ xã hội trong việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang người còn sống. Phạm trù pháp luật và kinh tế lại mang tính lịch sử, phản ánh đầy đủ bản chất của xã hội tư hữu, có giai cấp, nên thừa kế xuất hiện, tồn tại cùng với sự xuất hiện, phát triển của xã hội có giai cấp và dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xã hội hiện đại ngày nay), thể hiện quan điểm của một giai cấp nhất định trong xã hội có Nhà nước.
Nhà nước điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội bằng pháp luật, trong đó có quan hệ thừa kế. Quyền thừa kế Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền thừa kế có mối quan hệ chặt chẽ với quyền sở hữu của cá nhân. Quyền sở hữu của cá nhân là cơ sở của việc thừa kế.
Hình thức sở hữu quyết định việc thừa kế trong xã hội. Quyền sở hữu là cơ sở của quyền thừa kế, còn quyền thừa kế lại chính là căn cứ xác lập quyền sở hữu mới. Quyền sở hữu và quyền thừa kế song song tồn tại trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định, nhưng thông thường thì pháp luật quy định cá nhân có quyền sở hữu trước, sau đó pháp luật mới quy định cho họ quyền thừa kế. Trong chế độ xã hội phong kiến và tư bản, giai cấp bóc lột chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội nên di sản họ truyền lại cho con cháu không những là quyền lực kinh tế mà còn cả quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức bóc lột của giai cấp đó đối với giai cấp khác.
Ở nước ta, quyền thừa kế được coi là một phương tiện bảo vệ quyền sở hữu của công dân, củng cố quan hệ hôn nhân gia đình. Như vậy, có thể nói quyền thừa kế là một bộ phận của chế định thừa kế. Nó bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản của mình. Thừa kế là 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang người sống.
Do đó, về lý luận thì quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền và nghĩa vụ, phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Theo nghĩa hẹp thì quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Theo đó công dân có quyền để lại tài sản cho người khác, nhận tài sản, từ chối nhận di sản, khởi kiện hoặc không khởi kiện về thừa kế. Tuy nhiên, quyền thừa kế của công dân theo nghĩa hẹp này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Quyền thừa kế vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan. Theo nghĩa chủ quan: quyền thừa kế chính là quyền của con người, quyền của người để lại di sản và quyền của người hưởng di sản. Người để lại di sản có quyền lập di chúc, chỉ định người hưởng di sản, còn người hưởng di sản có quyền nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo nghĩa khách quan: quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh quan hệ giữa người để lại di sản với người hưởng di sản.
Quyền thừa kế ở phương diện khách quan mang tính quyết định đối với quyền thừa kế ở phương diện chủ quan. Nghĩa là, pháp luật quy định cho cá nhân (chủ thể) trong quan hệ thừa kế được hưởng các quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Mỗi nhà nước có những quy định về vấn đề sở hữu và thừa kế khác nhau. Quy định về thừa kế do quy định về sở hữu quyết định và thường tồn tại một cách tương ứng với nhau.
Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội có liên quan mật thiết với nhau, song song tồn tại cùng nhau. Do đó, quyền sở hữu và quyền thừa kế cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết và chặt chẽ. Pháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân, quy định quyền của cá nhân đối với tài sản của mình, trong đó có quyền thừa kế. Vì 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, quyền thừa kế luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, luôn là phương tiện để duy trì và củng cố quyền sở hữu.
Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [27]. Như vậy, quy định này tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân, trước khi chết họ có quyền định đoạt tài sản của mình theo ý chí của họ thông qua việc lập di chúc. Trường hợp người đó không thể hiện ý chí để định đoạt tài sản hoặc sự định đoạt đó không phù hợp pháp luật thì di sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định quyền để lại thừa kế của cá nhân, đồng thời quy định bất kỳ một cá nhân nào cũng có quyền hưởng di sản thừa kế.
Việc để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa kế là hai mặt đối lập nhưng thống nhất với nhau và là hai yếu tố cấu thành nên quyền thừa kế, phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản của người chết sang người còn sống. Quan hệ pháp luật thừa kế Quan hệ pháp luật thừa kế là một loại quan hệ pháp luật, nhưng quan hệ pháp luật thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự về tài sản giữa người có quyền hưởng di sản và người không có quyền hưởng di sản. Do đó, quan hệ pháp luật thừa kế cũng có chủ thể, khách thể và nội dung của nó. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật thừa kế đều hướng tới khách thể của quan hệ này là di sản do người chết để lại và các chủ thể này đều có những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định.
Dựa trên các quy định pháp luật về thừa kế thì trong mỗi quan hệ pháp luật thừa kế, các chủ thể tham gia vào quan hệ này lại có các quyền và nghĩa vụ khác nhau, phụ thuộc vào di sản do người chết để lại hay nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (nếu có). Do đó, di sản có vai trò quan trọng trong quan hệ pháp luật thừa kế, là đối tượng để các chủ thể hướng tới và là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ này. Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác" [27], mà theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [27]. Do đó, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung với người khác, là toàn bộ vật, tiền, giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết, quyền về tài sản của người đó.
Như vậy, quan hệ pháp luật thừa kế có đặc điểm của quan hệ vật quyền, là một quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối. KHÁI NIỆM THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ NHỮNG TRƢỜNG HỢP PHÁT SINH THỪA KẾ THẾ VỊ 1. Khái niệm thừa kế thế vị Theo nghĩa triết tự thì thế vị là sự thay thế vị trí. Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội thì "Thừa kế thế vị là thừa kế bằng việc thay vị trí để hưởng thừa kế" [42, tr.