Chương 1. Một số vấn đề lý luận và pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm bị cáo là người dưới 18 tuổi. Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh. Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM BỊ CÁO LÀ NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là ngƣời dƣới 18 tuổi 1. Khái niệm, đặc điểm bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm bị cáo là người dưới 18 tuổi Con người ta được sinh ra và lớn lên, đến một độ tuổi nhất định nào đó thì cơ thể con người mới đạt được một độ phát triển để có đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình trong mọi ứng xử và tình huống của cuộc sống.
Căn cứ vào khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của con người, các nhà khoa học đã phân chia mọi người trong xã hội thành hai nhóm khác nhau là người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) và người thành niên. Theo từ điển tiếng Việt, thì “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [44]. Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn” [5, Điều 1]. Mặc dù khái niệm của Công ước về Quyền trẻ em vẫn có điều khoản để ngỏ cho các quy định về độ tuổi cho người dưới 18 tuổi, thậm chí trong nội tại một quốc gia các văn bản pháp luật cũng có một số quy định không thống nhất về vấn đề này.
Ở Việt Nam, độ tuổi người dưới 18 tuổi được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả các văn bản quy phạm pháp luật đó đều thống nhất quy định tuổi người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Quan niệm về độ tuổi này cũng phù hợp với các quy định của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em ngày 20/02/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 thì chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Vậy tại sao pháp luật hình sự lại quy định người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự và người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm nhất định? Quy định này của BLHS về mặt lý luận có thể hiểu người chưa đủ 14 tuổi trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình gây ra, chưa đủ khả năng làm chủ được hành vi và một logic đương nhiên là họ không bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Một hành vi được coi là không có lỗi cũng có nghĩa là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ vì họ chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý, kinh nghiệm sống, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn bị hạn chế.
Do đó, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số loại tội phạm nhất định, đó là tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là nét khác biệt so với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Điều 50 của BLTTHS năm 2003 đã quy định “bị cáo” là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, căn cứ vào quy định này và cùng với quy định tại Điều 12 của BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên thì có thể hiểu bị cáo là người chưa thành niên chính là những người có độ tuổi từ đủ 14 đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Như vậy, không phải mọi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đều có tư cách là bị cáo, mà tư cách bị cáo chỉ được xác định khi Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Qua sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về bị cáo là người dưới 18 tuổi như sau: Bị cáo là người dưới 18 tuổi là những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục luật định. Từ khái niệm nêu trên, người dưới 18 tuổi phạm tội có 6 dấu hiệu cơ bản sau: - Từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi; - Có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý; - Đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; - Hành vi người dưới 18 tuổi thực hiện là hành vi mà pháp luật hình sự cấm; - Có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi đó; - Bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Đặc điểm bị cáo là người dưới 18 tuổi Thứ nhất, về mặt tâm, sinh lý.
Bị cáo dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và tinh thần. Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi trẻ con sang tuổi người lớn. Họ là người đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm sinh lý, đang ở giai đoạn hình thành cũng như phát triển về nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình như người đã thành niên. Đây là lứa tuổi chưa có đủ những kinh nghiệm, kỹ năng trong cuộc sống, quá trình nhận thức còn bị hạn chế; còn chủ quan, nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các sự vật, hiện tượng và dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống.
Do tư duy chưa hoàn thiện nên họ nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện về hệ quả và những tác động do hành vi của mình gây ra. Nhiều trường hợp bị cáo dưới 18 tuổi không ý thức được hành vi của mình là hành vi phạm tội. Mặc khác, bị cáo dưới 18 tuổi, nhất là lứa tuổi mới lớn thường có những chuyển biến nhanh và mạnh mẽ về tâm sinh lý, không còn thỏa mãn vai trò thụ động của những người được dạy dỗ, có xu hướng muốn tự khẳng định mình, bồng bột, hiếu thắng, thiếu tính thực tế, dễ bị dụ dỗ, kích động, lôi kéo tham gia vào những hoạt động phạm pháp. Nhưng đồng thời, đây cũng là lứa tuổi dễ bị tổn thương và thường có những phản ứng tiêu cực trước sự tác động chủ quan và khách quan bằng những hành vi nhất thời, thiếu suy nghĩ.
Hành động của họ thường dễ bị ảnh hưởng bởi sự rung cảm, nhạy cảm về tinh thần cộng vào đó là tính hay học đòi, thói quen giữ mình, khả năng tự kiềm chế bản thân yếu. Chính những đặc điểm tâm, sinh lý này là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét đánh giá khả năng nhận thức, mức độ lỗi của bị cáo dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội, để từ đó xác định chính xác trách nhiệm hình sự của bị cáo trong quá trình xét xử vụ án hình sự. Thứ hai, về xã hội. Do tâm sinh lý lứa tuổi nên bị cáo là người dưới 18 tuổi rất dễ bị lôi cuốn vào nhiều việc mà không tự chủ được.
Những ảnh hưởng của môi trường xã hội xung quanh tác động lớn đến người dưới 18 tuổi, bởi họ đang ở lứa tuổi hiếu động, hăng hái, nhiều khi bồng bột, khả năng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự kiềm chế bản thân hạn chế và thích thú với các hoạt động giao tiếp nên dễ bị kích động, lôi kéo. Nhiều khi ở những người dưới 18 tuổi còn có sự tò mò, hiếu kỳ, ham hiểu biết về một vấn đề nào đó, muốn tự tay mình thử nghiệm, tìm hiểu, đôi khi họ muốn mình tỏ ra là người lớn, muốn có biểu hiện của sự anh hùng…. Đây là lý do dẫn đến người dưới 18 tuổi có những hành vi, xử sự thiếu suy nghĩ. Bị cáo là người dưới 18 tuổi chưa hội đủ sự trưởng thành về tâm lý, sự ổn định về cảm xúc để tạo nên trạng thái cân bằng cho bản thân nên khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng thì tổn hại về thể chất đặc biệt là tổn hại về tinh thần của lứa tuổi này thường dẫn đến những biến động tâm lý nặng nề và để lại những di chấn tiêu cực trong thời gian dài.
Nhiều trường hợp tỏ ra manh động liều lĩnh khi bị bắt giam và tuyên án vì tưởng rằng không còn gì để mất. Thậm chí, có bị cáo là người dưới 18 tuổi do quá lo sợ, trầm cảm, nảy sinh ý định tự sát; có trường hợp lại cố gắng tỏ ra bất cần, ngang ngược thách thức người tiến hành tố tụng để che dấu cảm giác lo lắng, sợ hãi, hối hận. Thứ ba, về pháp lý. Người dưới 18 tuổi là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật.