Luận văn thạc sĩ thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố quảng ngãi tỉnh quảng ngãi

Luận văn thạc sĩ phân tích thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cho người dưới 18 tuổi tại Quảng Ngãi, đánh giá quy trình và đề xuất cải tiến.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

88
10
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Phần này tập trung phân tích khái niệmđặc điểm của thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo đó, người dưới 18 tuổi được xác định là người chưa thành niên, và việc xét xử họ cần tuân thủ các quy định đặc biệt nhằm bảo vệ quyền lợi và tâm lý của họ. Luật hình sự Việt Nam quy định rõ ràng về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, trong đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm nghiêm trọng. Phần này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý và nhận thức của người chưa thành niên để đảm bảo quá trình xét xử công bằng và hiệu quả.

1.1 Khái niệm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi là quy trình tố tụng đặc biệt được áp dụng khi xét xử các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên. Quy trình này nhằm đảm bảo việc xét xử không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhận thức của người dưới 18 tuổi. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã quy định riêng một chương về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này.

1.2 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của người dưới 18 tuổi

Người dưới 18 tuổi có đặc điểm tâm lý và nhận thức chưa hoàn thiện, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Việc phạm tội của họ thường xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, thiếu sự giáo dục từ gia đình và xã hội. Do đó, quá trình xét xử cần chú trọng đến việc giáo dục, sửa chữa lỗi lầm hơn là trừng phạt. Tòa án cần có sự tham gia của các chuyên gia tâm lý và đại diện gia đình để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên được bảo vệ tối đa.

II. Thực trạng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Quảng Ngãi

Phần này phân tích thực trạng áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. Dữ liệu thống kê từ năm 2014 đến 2018 cho thấy số lượng vụ án liên quan đến người chưa thành niên có xu hướng gia tăng, đặc biệt là các tội phạm về trộm cắp và gây thương tích. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã có những quy định tiến bộ, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc đảm bảo sự có mặt của đại diện gia đình và người bào chữa.

2.1 Thực trạng quy định pháp luật

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã quy định rõ ràng về thủ tục xét xử sơ thẩm đối với người dưới 18 tuổi, bao gồm việc đảm bảo sự có mặt của đại diện gia đình, người bào chữa và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của bị cáo. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn tại Quảng Ngãi vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc tuân thủ các thủ tục tố tụng đặc biệt.

2.2 Thực tiễn áp dụng tại Tòa án Quảng Ngãi

Tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, việc xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi thường gặp khó khăn do thiếu nguồn lực và chuyên môn. Nhiều trường hợp, đại diện gia đình và người bào chữa không có mặt tại phiên tòa, dẫn đến việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo không được đảm bảo. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và năng lực của các cán bộ tư pháp trong việc áp dụng các quy định pháp luật.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Phần này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Các giải pháp bao gồm việc tăng cường đào tạo cho cán bộ tư pháp, nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người chưa thành niên, và hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc giáo dục và tái hòa nhập xã hội cho người dưới 18 tuổi sau khi xét xử.

3.1 Tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ tư pháp

Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho các cán bộ tư pháp là yếu tố quan trọng để đảm bảo việc áp dụng đúng các quy định pháp luật. Các khóa đào tạo cần tập trung vào việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi và các kỹ năng cần thiết trong quá trình xét xử.

3.2 Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên, đặc biệt là các quy định về sự có mặt của đại diện gia đình và người bào chữa. Đồng thời, cần có các biện pháp cụ thể để đảm bảo tính khả thi của các quy định này trong thực tiễn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố quảng ngãi tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN VÀ SƠ LƯỢC LỊCH SỬ LẬP PHÁP VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội - Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Trong lịch sử loài người, cuộc đời của mỗi con người đã trải qua trong các giai đoạn phát triển của loài người với những xã hội, độ tuổi khác nhau, chính vì vậy trong xã hội cũng như trong pháp luật đã hình thành những tên gọi, thuật ngữ khác nhau như: trẻ em, người lớn, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên; nhưng trong các thuật ngữ pháp lý của các nước đã sử dụng phổ biến cách gọi là người thành niên và người chưa thành niên theo độ tuổi khác nhau.

Trên phạm vi quốc tế, các văn bản pháp luật liên quan đến người chưa thành niên gồm: Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hiệp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (hay thường gọi là Quy tắc Bắc Kinh ngày 29/11/1985); Công ước về quyền trẻ em (được Đại Hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989); hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Ri-át, ngày 14/12/1990). như vậy, trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi, người trẻ tuổi bao gồm trẻ em, người chưa thành niên. Còn các văn bản khác như Quy tắc Bắc Kinh (1985) cũng đều thống nhất quan điểm người chưa thành niên là người chưa đến 18 tuổi. Trong khi đó ở một số văn kiện của một số Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức thuộc Liên Hiệp quốc như Quỹ dân số (UNCPA) và 8 Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNECO) thì quy định trẻ em là những người dưới 15 tuổi….

Theo pháp luật Việt Nam, từ quá khứ phát triển của lịch sử đến nay đã đúc kết những kinh nghiệm được thừa nhận các thành tựu do các ngành khoa học khác nhau mang lại và qua quá trình tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên, tùy theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật khác nhau, như sau: Theo pháp luật Viêt Nam quy định, trẻ em là người dưới 16 tuổi [53]. Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên; Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi [32]. Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi [36]. Như vậy, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.

Từ các phân tích trên hoàn toàn phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/02/1990 mà nước ta là thành viên [25]. Theo BLHS năm 1999 quy định người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi, chỉ những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, còn đối với người dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 12 BLHS năm 1999 quy định, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [29]. Điều 48, 49,50 BLTTHS năm 2003 quy định “Người bị tạm giữ là người ….; Bị can, người đã bị khởi tố về hình sự ….;Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Đồng thời theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì có thể hiểu người phạm tội là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã Điều tra, truy tố đến khi Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Theo quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người dưới 18 tuổi là những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Việc xác định tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 9 tuổi rất quan trọng vì đây là căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phạm tội. Việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội là rất cần thiết vì giúp Cơ quan tiến hành tố tụng xác định việc áp dụng pháp luật khi xét xử và khi áp dụng hình phạt đối với họ.

Theo quy định tại Điều 8 của BLHS năm 2015 thì, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác [28]. Từ sự phân tích trên có thể thấy: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, họ là người trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự trên thực tiễn phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó xét xử sơ thẩm là giai đoạn quan trọng không thể thiếu trong một quá trình tến hành tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 27, BLTTHS năm 2015 quy định: Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Những bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật và được thi hành. Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử ơ cấp cao hơn là phúc thẩm.

Còn bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành. Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần đầu 10 (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật, là một giai đoạn kết thúc quá trình giải quyết một vụ án hình sự, tất cả mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa, trừ trường hợp các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau tại phiên tòa và được tranh luận chất vấn những vấn đề mà tại Cơ quan điều tra họ chưa được làm rõ. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên toà về quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất [16]. Có một số quan điểm cho rằng xét xử sơ thẩm là việc xét xử một vụ án ở cấp thấp nhất.

Nhưng quan điểm này cũng chỉ mang tính hình thức chứ chưa chỉ ra được nội dung và bản chất của xét xử sơ thẩm là như thế nào và khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm cụ thể là Hội đồng xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân để ra bản án hoặc quyết định. Những bản án, quyết định này chưa phát sinh hiệu lực pháp luật ngay và nó có thể bị kháng cáo, kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Ngoài ra có quan điểm khác cho rằng xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất do Tòa án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Chúng tôi cho rằng không phải tất cả các phiên tòa ở cấp thứ nhất (phiên tòa sơ thẩm) đều là xét xử lần thứ nhất.

Bởi vì bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại. Với các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, có thể nhận thấy hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất được nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để thực hiện quyền tư pháp, có thể hiểu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp thứ nhất (Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh) tiến hành có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân (trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn) để tiến hành giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án, quyết định bị cáo có tội hay không có 11 tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn coi trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống xã hội hàng ngày mà ngay cả khi quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Thủ Tục Xét Xử Sơ Thẩm Vụ Án Hình Sự Cho Người Dưới 18 Tuổi Tại Quảng Ngãi là một nghiên cứu chuyên sâu về quy trình xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự liên quan đến người chưa thành niên tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn đánh giá thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ tối đa cho đối tượng này trong quá trình tố tụng. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi, đồng thời nhận được những gợi ý thiết thực để cải thiện hiệu quả xét xử.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục xét xử vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan hơn về quy trình xét xử dành riêng cho đối tượng chưa thành niên. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về vai trò của viện kiểm sát trong quá trình tố tụng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về các biện pháp ngăn chặn và tính tuân thủ pháp luật trong quá trình xử lý vụ án hình sự.