Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm tại các đô thị đang phát triển cho thấy người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những vấn đề xã hội phức tạp, đòi hỏi chính sách xử lý nhân văn và chuyên biệt. Tại thành phố Quảng Ngãi, một trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh Quảng Ngãi với quy mô dân số 263.440 người và mật độ 1.645 người/km2, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng sự dịch chuyển lao động tự do đã làm gia tăng đáng kể các hành vi lệch chuẩn xã hội ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Quá trình giải quyết các vụ án này đặt ra thách thức lớn đối với cơ quan tiến hành tố tụng: vừa phải bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa phải ưu tiên giáo dục, phòng ngừa và bảo đảm tối đa quyền lợi của người chưa thành niên theo tinh thần cải cách tư pháp.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự với đề tài xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi tập trung làm rõ những khía cạnh lý luận và đánh giá toàn diện việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2014 đến năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát 100% hồ sơ vụ án gồm 64 vụ với 92 bị cáo chưa thành niên, nhận diện các xung đột pháp lý giữa Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 và Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, từ đó xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ các thẩm phán, kiểm sát viên chuẩn hóa quy trình tố tụng thân thiện, kéo giảm tỷ lệ án bị hủy hoặc sửa do lỗi thủ tục xuống dưới 1,5%, đồng thời thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người trong nền tư pháp Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tư pháp người chưa thành niên và học thuyết tư pháp phục hồi, vốn nhấn mạnh mục tiêu giáo dục, hoàn lương hơn là trừng phạt cách ly xã hội. Khung lý thuyết này bắt nguồn từ các chuẩn mực quốc tế như Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em năm 1989 và Quy tắc Tiêu chuẩn Tối thiểu của Liên Hợp Quốc về Quản lý Tư pháp Người chưa thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh). Luận văn tích hợp các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, xác định Tòa án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm của hệ thống tư pháp.

Trong quá trình phân tích, 4 khái niệm pháp lý then chốt được chuẩn hóa và vận dụng xuyên suốt:

Thứ nhất, người dưới 18 tuổi phạm tội là cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, thủ tục xét xử sơ thẩm thân thiện là phương thức tiến hành phiên tòa cấp thứ nhất bảo đảm không khí không áp lực, thẩm phán mặc trang phục hành chính, không bố trí vành móng ngựa và không sử dụng cùm khóa theo Thông tư 02/2018/TT-TANDTC.

Thứ ba, quyền bào chữa chỉ định bắt buộc là cơ chế bảo đảm pháp lý tuyệt đối theo Điều 422 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, yêu cầu cơ quan tố tụng phải phân công người bào chữa bất kể ý chí chủ quan của bị cáo.

Thứ tư, biện pháp xử lý chuyển hướng là hệ thống các chế tài giám sát, giáo dục tại cộng đồng như khiển trách, hòa giải tại cơ sở hoặc giáo dục tại xã, phường theo Điều 418 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 nhằm thay thế hình phạt tù.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 64 bản án hình sự sơ thẩm và hồ sơ lưu trữ của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi trong mốc thời gian 5 năm (2014-2018), kết hợp với số liệu thống kê liên ngành từ Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 92 bị cáo là người dưới 18 tuổi được đưa ra xét xử sơ thẩm trong giai đoạn nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu toàn thể được lựa chọn thay vì lấy mẫu ngẫu nhiên nhằm triệt tiêu hoàn toàn sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh toàn cảnh và chính xác về cơ cấu tội phạm, độ tuổi và mức hình phạt áp dụng trên toàn địa bàn gồm 9 phường và 14 xã.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp quy phạm pháp luật và so sánh luật học lịch sử qua 5 giai đoạn lập hiến của Việt Nam (1945-1954, 1954-1975, 1975-1988, 1988-2003 và từ 2015 đến nay). Việc lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng giúp làm sáng tỏ mối tương quan giữa các lỗ hổng lập pháp với những vướng mắc thực tiễn khi áp dụng Chương XXVIII Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 64 vụ án với 92 bị cáo tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi giai đoạn 2014-2018 đã mang lại 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, về phân bổ nhóm tuổi, người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo với 81,5% (75 trên tổng số 92 bị cáo), trong khi nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chiếm 18,5% (17 bị cáo). Điều này phản ánh tính chất chuyển tiếp tâm lý phức tạp của độ tuổi bắt đầu có sự tự chủ xã hội nhưng thiếu kiểm soát hành vi.

Thứ hai, về cơ cấu tội danh, các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu chiếm tỷ trọng cao nhất với 58,7% (38 vụ), điển hình là tội trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản. Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, sức khỏe con người như gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích đứng thứ hai với 32,6% (21 vụ). Các tội danh khác như tội phạm ma túy chiếm 8,7% (5 vụ).

Thứ ba, về kết quả lượng hình và biện pháp xử lý, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi tuyên phạt tù có thời hạn chiếm 42,4% (39 bị cáo), hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo chiếm 39,1% (36 bị cáo), phạt cải tạo không giam giữ và cảnh cáo chiếm 18,5% (17 bị cáo). Tỷ lệ áp dụng các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt như giáo dục tại trường giáo dưỡng còn rất thấp, dưới 5%.

Thứ tư, về việc thực thi các quy định tố tụng đặc biệt, tỷ lệ chỉ định người bào chữa đạt mức tuyệt đối 100%, tỷ lệ người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa đạt 96,7%. Tuy nhiên, việc tổ chức phòng xử án thân thiện theo mô hình bàn tròn chỉ đạt khoảng 25% tổng số phiên tòa trong năm 2018 do hạn chế về hạ tầng phòng xử.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua Bảng thống kê số vụ án theo năm và Biểu đồ cơ cấu tội danh giai đoạn 2014-2018, thể hiện rõ xu hướng gia tăng của tội phạm có tổ chức mang tính bộc phát, với 68% số vụ án có từ 2 bị cáo trở lên cùng tham gia thực hiện hành vi.

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ sự thiếu hụt trong liên kết giáo dục giữa gia đình và nhà trường: 68% bị cáo xuất thân từ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ ly hôn hoặc buông lỏng quản lý; 22% bị lôi kéo, rủ rê bởi các đối tượng đã thành niên ngoài xã hội. So sánh với tỷ lệ trung bình toàn quốc (nơi tỷ lệ án treo cho người chưa thành niên thường đạt khoảng 45% đến 50%), tỷ lệ áp dụng hình phạt tù giam 42,4% tại thành phố Quảng Ngãi cho thấy xu hướng xử lý tại địa phương còn tương đối nghiêm khắc, chưa khai thác triệt để các biện pháp chuyển hướng.

Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển dịch trọng tâm từ trừng phạt sang phục hồi, giảm tải áp lực giam giữ và hạn chế tối đa nguy cơ tái phạm do bị tha hóa trong môi trường trại giam.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm và bảo đảm tối đa lợi ích của người dưới 18 tuổi, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, Quốc hội và Tòa án nhân dân Tối cao cần hoàn thiện lập pháp bằng việc bổ sung định nghĩa chuẩn xác về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, sửa đổi Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 để bảo đảm sự đồng bộ về tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đặt mục tiêu loại bỏ 100% xung đột văn bản pháp luật trước quý 4 năm 2022.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi khẩn trương đầu tư chuẩn hóa 100% cơ sở vật chất phòng xử án thân thiện theo đúng Thông tư 01/2017/TT-TANDTC và Thông tư 02/2018/TT-TANDTC; loại bỏ hoàn toàn vành móng ngựa và quy định thẩm phán mặc trang phục hành chính trong 100% vụ án có người dưới 18 tuổi, hoàn thành trong giai đoạn 2021-2023.

Thứ ba, Học viện Tòa án phối hợp với Đoàn Luật sư tỉnh tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về tâm lý học tư pháp và kỹ năng xét xử thân thiện cho 100% thẩm phán, kiểm sát viên và hội thẩm nhân dân là cán bộ Đoàn Thanh niên, giáo viên.

Thứ tư, Tòa án nhân dân thành phố chủ trì thiết lập quy chế phối hợp liên ngành với Viện kiểm sát, Công an và Ủy ban nhân dân 23 xã, phường nhằm nâng tỷ lệ áp dụng các biện pháp chuyển hướng như khiển trách, hòa giải cộng đồng lên mức 20% đến 30% tổng số vụ việc đủ điều kiện trong giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên: Vận dụng luận văn làm tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ thực hành quyền công tố và điều khiển phiên tòa thân thiện, nắm vững quy trình xác định độ tuổi theo 5 trường hợp tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 để hạn chế sai sót tố tụng.

Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Sử dụng các phân tích về quyền bào chữa bắt buộc và vai trò của người đại diện theo Điều 420, Điều 422 để xây dựng chiến lược bảo vệ quyền lợi tối ưu cho thân chủ chưa thành niên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Học viên cao học, Sinh viên và Nghiên cứu sinh ngành Luật: Tiếp cận bộ số liệu thực chứng 5 năm (2014-2018) và phương pháp luận nghiên cứu xã hội học pháp luật để triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tư pháp hình sự và quyền trẻ em.

Cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Giáo viên làm Hội thẩm nhân dân: Trang bị kiến thức pháp lý và kỹ năng tương tác tâm lý, nâng cao chất lượng tham gia Hội đồng xét xử và công tác giám sát, giáo dục người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Phiên tòa xét xử sơ thẩm người dưới 18 tuổi có bắt buộc phải có người bào chữa không?

Có. Theo quy định tại Điều 422 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sự tham gia của người bào chữa là bắt buộc. Nếu bị cáo hoặc người đại diện không yêu cầu, cơ quan tố tụng phải chỉ định người bào chữa từ Đoàn luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý, bảo đảm tỷ lệ tiếp cận luật sư đạt 100% trong toàn bộ 64 vụ án nghiên cứu.

Trường hợp nào Tòa án bắt buộc phải xét xử kín đối với người dưới 18 tuổi?

Căn cứ Điều 7 Thông tư 02/2018/TT-TANDTC, Tòa án bắt buộc xét xử kín đối với vụ án có bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bạo hành hoặc mua bán. Với các vụ án khác, Tòa án xét xử kín khi có yêu cầu từ bị cáo hoặc người đại diện để bảo vệ bí mật đời tư, nhưng bản án vẫn phải tuyên công khai theo Điều 327.

Cách tính tuổi của người bị buộc tội khi không có ngày tháng sinh chính xác được thực hiện ra sao?

Khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định 5 cách xác định: nếu chỉ biết tháng thì lấy ngày cuối tháng; biết quý thì lấy ngày cuối của quý; biết nửa năm thì lấy ngày cuối của nửa năm; biết năm thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó; nếu không rõ năm phải giám định và lấy độ tuổi thấp nhất trong khoảng xác định.

Trang phục của Thẩm phán khi xét xử người dưới 18 tuổi tại phòng xử án thân thiện được quy định như thế nào?

Theo Thông tư 01/2017/TT-TANDTC và Thông tư 02/2018/TT-TANDTC, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tại Tòa Gia đình và Người chưa thành niên bắt buộc phải mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không được mặc áo choàng xét xử nhằm tạo không khí gần gũi, giảm bớt căng thẳng tâm lý cho bị cáo.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có người dưới 18 tuổi cần điều kiện đặc thù gì?

Khoản 1 Điều 423 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định Hội đồng xét xử sơ thẩm bắt buộc phải có ít nhất 1 Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các thành viên tiến hành tố tụng phải là những người có kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu về tâm lý học lứa tuổi thanh thiếu niên.

Kết luận

• Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và lịch sử lập hiến về thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt dành cho người dưới 18 tuổi tại Việt Nam.

• Khảo sát thực tiễn 64 vụ án với 92 bị cáo tại thành phố Quảng Ngãi (2014-2018) đã chứng minh nhóm tuổi từ 16 đến dưới 18 chiếm đa số với 81,5% và tội danh xâm phạm sở hữu chiếm 58,7%.

• Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã thực hiện tốt các bảo đảm tố tụng với 100% vụ án có người bào chữa, tuy nhiên tỷ lệ phòng xử án thân thiện và các biện pháp xử lý chuyển hướng cần tiếp tục được mở rộng.

• Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về lập pháp, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo chuyên môn và cơ chế phối hợp liên ngành với mục tiêu thực thi trong giai đoạn 2021-2025.

• Các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức xã hội cần chung tay triển khai hiệu quả mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên để bảo vệ quyền trẻ em và xây dựng xã hội pháp quyền nhân văn.