CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục hành chính về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 1. Khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Trên cơ sở góc độ khoa học và những quy định của pháp luật, các cấp chính quyền cần công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai, bảo đảm phù hợp với chủ trường của chính sách đất đai và bảo vệ quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân trong việc xác lập quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI khẳng định về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn từ góc độ kinh tế, một hàng hoá bao giờ cũng có giá trị hàng hóa và giá trị sử dụng, trong đó giá trị của hàng hoá được xác định bằng lao động kết tinh trong hàng hoá, nhưng giá trị của quyền sử dụng đất không được xác định thông qua quy luật thông thường, không có hao phí lao động nào được bỏ ra để hình thành nên đất (chỉ có lao động bỏ ra để cải tạo). Từ những phân tích, quan điểm trên cho thấy quyền sử dụng đất là một loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường được xác lập bởi sự quản lý của Nhà nước với cơ chế, chính sách mở rộng thị trường bất động sản trong nước và xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế, xã hội tại các địa phương. 10 Luan van Qua đó, có thể hiểu đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất thông qua quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất của công dân được Nhà nước bảo hộ và thực hiện theo luật định.
[Hồ Quang Huy (2017), Suy nghĩ về khái niệm quyền sử dụng đất của Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp https://moj.vn/, cập nhật ngày 03/7/2017]. Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác các tiềm năng của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng an ninh quốc phòng của đất nước. Việc khai thác lợi ích kinh tế trong quá trình sử dụng đất là rất lớn. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài trong thực tiễn các địa phương.
Thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất buộc các tổ chức, hộ gia đình cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Người sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích mà họ thu được từ việc sử dụng đất đai dưới dạng những nghĩa vụ vật chất cho Nhà nước thông qua hình thức như nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất [Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai 2013]. Qua đó cho thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người dân đã được xác lập cơ sở pháp lý, được nhà nước công nhận và bảo hộ.
11 Luan van Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Vì vậy, người có Giấy chứng nhận có quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tài sản là tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác [Điều 105, Điều 115, Bộ Luật Dân sự 2015].
Như vậy, quyền sử dụng đất đai được coi là một trong những quyền tài sản được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận chủ sử dụng đất được thực hiện các giao dịch đối với tài sản này. [Nguyễn Thuỳ Linh (2020), Khái lược và bản chất pháp lý về quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Trang thông tin điện tử Luật dương gia https://luatduonggia.vn/, cập nhật ngày 29/3/2020] Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là cơ sở pháp lý quan trọng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho người sử dụng đất định đoạt, sử dụng đất, sỡ hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo luật định. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa, giá trị của quyền sử đất được xác định theo giá đất, phụ thuộc vào loại đất, diện tích, vị trí của mảnh đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtlà cơ sở pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất, họ toàn quyền được định đoạt và sử dụng theo mục đích yêu cầu phát triển kinh tế từ thực tiễn.
Qua đó giúp cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện quản lý thực trạng đất đai nói chung và thực địa biến động đất đai, khai thác quỹ đất, xác định mức giá bồi thường, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm về đất đai theo thẩm quyền. 12 Luan van Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất [Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013]. Pháp Luật Đất đai quy định mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [Điều 3 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất]; quy định trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai 2013]; quy định các trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13]. Khái niệm thủ tục hành chính Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức [Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ quy định về kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị định 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ về sửa đổi Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính].
Về phân loại thủ tục hành chính hiện nay theo nhiều tiêu chí khác nhau có thể phân thành các loại thủ tục hành chính như sau: Thủ tục hành chính nội bộ là trình tự thực hiện các công việc nội bộ cơ quan nhà nước.Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức và thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước bao gồm: Thủ tục ban hành quyết định; thủ tục khen thưởng – kỷ luật; thủ tục thành lập các tổ chức, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức nhà nước. 13 Luan van Thủ tục hành chính liên hệ là trình tự các cơ quan hành chính, công chức,công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật. Thủ tục hành chính liên hệ rất đa dạng, thủ tục này bao gồm:Thủ tục giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức; Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. Thủ tục văn thư là trình tự tiến hành các hoạt động lưu trữ, xử lý, cungcấp công văn giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới các hình thức văn bản.Thủ tục văn thư mang nhiều tính chất kỹ thuật nghiệp vụ hành chính, đò ihỏi quá trình thực hiện phải tỉ mỉ, đúng thể thức, trình tự các bước tiến hành.Tóm lại, việc phân nhóm các thủ tục hành chính căn cứ vào tính chất hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết công việc của nhà nước và của công dân như trên chỉ có tính chất tương đối.
Thủ tục hành chính được hiểu là trình tự,thủ tục được quy định trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước với các bước tiến hành theo quy trình cho các cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch và cơ quan nhà nước thực hiện thủ tục hành chính này trong quá trình giải quyết yêu cầu hành chính liên quan đến công dân tại các địa phương[Trần Mai Hương (2020), Khái quát chung về thủ tục hành chính, Trang thông tin điện tử Luật dương gia https://luatduonggia.vn/, cập nhật 18/5/2020] Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức [43] 1.