Đặt vấn đề Xã Tà Hộc thuộc một xã vùng sâu vùng xa của huyện Mai Sơn, dân số đang sống chủ yếu bằng nghề nông. Nền sản xuất nông nghiệp của Sơn La - Điện Biên hiện nay chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Trong đó chăn nuôi trâu, bò vẫn giữ vai trò quan trọng, nhằm mục đích cung cấp thực phẩm, sữa, sức kéo, phân bón cho ngành trồng trọt. Tuy nhu cầu về sức kéo đã giảm do máy móc cơ khí nhỏ đang dần được thay thế dần trong sản xuất nhưng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại tăng rất nhanh.
Vì vậy, chủ trương của tỉnh, các huyện và các xã trong những năm tới vẫn xác định tiếp tục phát triển chăn nuôi trâu bò, nhất là đàn bò thịt. Kết quả điều tra năm 2011-2012, tại các xã trong khuôn khổ dự án “Khắc phục trở ngại về kỹ thuật và thị trường để chăn nuôi bò có lãi tại vùng Tây Bắc Việt Nam” cho thấy, trâu bò nuôi ở Sơn La, Điện Biên thiếu thức ăn nghiêm trọng trong vụ Đông-Xuân (Nguyen Hung Quang và cs, 2014). Nguồn thức ăn thô xanh chính cung cấp cho đàn bò chủ yếu là dựa vào cây cỏ tự nhiên trên các bãi chăn thả trong rừng, nên bò không chỉ tăng trọng thấp (3-6 kg/tháng), mà còn có trường hợp giảm khối lượng (Nguyen Hung Quang và cs, 2014). Trong khi đó, nguồn sắn tươi giá chỉ 1-1,5 nghìn đồng/kg và phế phụ phẩm trồng trọt hầu như chưa được sử dụng đúng kỹ thuật (Nguyen H.
Chính vì vậy, để đảm bảo nguồn thức ăn thô giá trị cao cho bò, thì ủ rơm với urê là một biện pháp rất cần thiết. Ngoài ra, có thể dùng sắn ủ để cung cấp thêm nguồn thức ăn giầu năng lượng sẽ cải thiện được dinh dưỡng của chúng, nhờ đó, nâng cao mức tăng khối lượng, tăng sức chống chịu, giảm tỷ lệ chết rét trong vụ Đông - Xuân tại đây. n 2 Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm một số giải pháp về chăm sóc nuôi dưỡng trong vụ Đông Xuân nhằm nâng cao sức sản xuất của đàn bò thịt tại xã Tà Hộc, huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La”. Mục tiêu của đề tài Sử dụng có hiệu quả việc bổ sung rơm, rơm ủ urê và củ sắn ủ chua trong khẩu phần, để nuôi bò vỗ béo phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật tại địa phương.
Giúp hộ chăn nuôi thực hành nuôi dưỡng bò thịt tốt hơn thông qua sử dụng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương. Khắc phục tình trạng khan hiếm thức ăn làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của đàn bò trong vụ Đông – Xuân. Cải thiện thu nhập trong chăn nuôi bò thịt quy mô nông hộ. Xác định được hiệu quả của việc bổ sung thức ăn trong khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo, trên cơ sở đó khuyến cáo cho người chăn nuôi dự trữ, bổ sung thức (rơm ủ urê, sắn ủ) nhằm đảm bảo đủ thức ăn cho gia súc và giúp gia súc tăng trọng nhanh hơn.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết về tiềm năng sử dụng nguồn thức ăn. Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là loại sẵn có tại địa phương, thông qua đó cung cấp cho người chăn nuôi cách chế biến và bảo quản một cách có hiệu quả để đem lại nguồn lợi kinh tế cho người chăn nuôi vỗ béo bò thịt nói riêng và chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung. Đề xuất áp dụng khẩu phần nuôi vỗ béo phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật. Từ đó tuyên truyền, phổ biến và chuyển giao quy trình kỹ thuật rộng rãi trên địa bàn.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm tiêu hóa ở gia súc nhai lại 2. Sơ lược chức năng các bộ phận đường tiêu hóa Dạ dày của gia súc nhai lại là dạ dày kép gồm 4 túi : Dạ cỏ: Chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Chiếm 85 - 90 % dung tích dạ dày, 69 % diện tích bề mặt dạ dày.
Chức năng : Lên men tiêu hóa, axit béo bay hơi. Dạ tổ ong : Túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc cấu tạo giống như tổ ong Chức năng đẩy thức ăn rắn và thức ăn chưa nghiền nhỏ đến dạ cỏ. Đẩy thức ăn nước đến dạ lá sách. Dạ lá sách: Niêm mạc cấu tạo gấp nếp như lá sách.
Chức năng ép các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, muối khoáng, vitamin Dạ múi khế: Là dạ dày tuyến gồm có thân vị, hạ vị. Chức năng tiêu hóa như dạ dày đơn nhờ HCl, pepsin, kimozin. Ruột Quá trình tiêu hóa hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại, diễn ra tương tự ở dạ dày đơn nhờ các men tiêu hóa của dịch ruột, dịch tụy và sự tham gia của dịch mật. Trong ruột già có sự lên men vi sinh vật (VSV) lần hai.
Sự tiêu hóa ruột già có ý nghĩa giúp tiêu hóa nốt các thành phần xơ chưa tiêu hóa hết ở dạ cỏ. Axit béo bay hơi sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng protein VSV thì bị thải ra ngoài qua phân. Sinh lý dạ cỏ gia súc nhai lại Dạ cỏ được coi là một thùng lên men lớn với chức năng lên men tiêu hóa thức ăn (thức ăn thô xanh và thức ăn tinh). Dạ cỏ có môi trường thuận lợi n 4 cho VSV lên men yếm khí: nhiệt độ tương đối ổn định khoảng 38 - 42°C, pH từ 5,5 - 7,4.
Có khoảng 50 - 80% các chất dinh dưỡng của thức ăn được lên men ở dạ cỏ. Sản phẩm lên men chính là axit béo bay hơi (ABBH), sinh khối VSV và khí mêtan (CH4). Sinh khối VSV và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hóa. Sự nhai lại Thức ăn sau khi được nuốt xuống dạ cỏ và lên men.
Phần thức ăn chưa được nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng được ợ lên miệng với những miếng không lớn và được nhai kỹ lại ở miệng. Thức ăn sau khi đã được nhai kỹ và thấm nước bọt lại được nuốt xuống dạ cỏ. Sự nhai lại diễn ra 5-6 lần/ngày. Mỗi lần kéo dài khoảng 50 phút.
Thời gian nhai lại tùy thuộc bản chất thức ăn, trạng thái sinh lý con vật, nhiệt độ môi trường. Tuyến nước bọt Nước bọt có tính kiềm nên trung hòa axít dạ cỏ, giúp thấm ướt thức ăn làm cho quá trình nuốt và nhai dễ dàng hơn. Nước bọt ở trâu bò được phân tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục. Với các chất điện giải: Na+, K+, Ca 2+, Mg 2+.
Đặc biệt, nước bọt còn có urê, phốt pho, có tác dụng điều chỉnh N và P cho môi trường dạ cỏ. Sự phân tiết nước bọt chịu tác động bởi bản chất vật lý của thức ăn, hàm lượng vật chất khô trong khẩu phần thức ăn, dung tích đường tiêu hóa và trạng thái sinh lý của gia súc. Trâu bò ăn nhiều thức ăn xơ thô sẽ phân tiết nhiều nước bọt. Việc phân tiết nước bọt giảm sẽ làm tác dụng đệm đối với dịch dạ cỏ kém và kết quả là tiêu hóa thức ăn xơ giảm xuống.
Vai trò của hệ VSV dạ cỏ Vi khuẩn: Được chia làm nhiều nhóm vi khuẩn có khả năng phân giải xenluloza, hemixenluloza, tinh bột, đường, protein… chúng có thể sử dụng được NH3 Động vật nguyên sinh: Xé rách màng tế bào thực vật, làm tăng diện tích tiếp xúc, do đó dễ bị tác động của VSV. Không có khả năng sử dụng NH3 Nấm: Nấm là VSV đầu tiên xâm nhập, tiêu hóa thành phần cấu trúc thực vật bắt đầu từ bên trong bằng cách mọc chồi phá vỡ TB thực vật. Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hóa chất xơ, làm tăng khả năng phân giải của VSV. Đặc tính cơ bản của gia súc nhai lại có dạ dày gồm 4 túi, trong đó đặc biệt là dạ cỏ, nơi chứa đựng và lên men phân giải thức ăn với sự hoạt động cộng sinh của VSV dạ cỏ.
Gia súc nhai lại bắt buộc phải nhai lại để làm nhuyễn thức ăn và tiết nước bọt trung hòa môi trường dạ cỏ. Như vậy, phải cung cấp đầy đủ thức ăn thô xanh để quá trình nhai lại được thực hiện. Do VSV phân giải tinh bột và VSV phân giải thức ăn thô xanh hoạt động tốt ở hai môi trường pH khác nhau. Vì vậy, làm thế nào để cung cấp thức ăn tinh và thức ăn thô xanh để hai nhóm VSV này không ức chế cạnh tranh nhau.
Tốt nhất nên cung cấp thức ăn tinh làm nhiều lần trong ngày để cân bằng pH dạ cỏ và không nên cho ăn thức ăn tinh trước khi cho ăn thức ăn thô xanh. Có thể bổ sung nguồn nitơ phi protein như urê cho quá trình sinh tổng hợp của VSV, có hiệu quả tốt mà lại là nguồn thức ăn rẻ tiền. Đặc điểm sinh trưởng của bò 2. Khái niệm về sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của cơ thể và các bộ phận trong cơ thể.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, Nguyễn Tiến Văn, 1992 [13] : Theo Gartner - 1992, quá trình sinh trưởng được xem trước tiên như là kết quả phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Như vậy, sinh trưởng là sự tăng về kích thước, khối lượng tế bào, mô hay bộ phận cơ quan trong cơ thể. Đó là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa. Sự sinh trưởng (biến đổi về số lượng) và sự phân hóa (biến đổi về chất lượng) tạo nên sự phát triển của cơ thể từ lúc bào thai đến lúc già chết.
Các quy luật sinh trưởng Quá trình sinh trưởng của gia súc tuân theo những quy luật nhất định. Trong chăn nuôi, muốn đánh giá đúng sự phát triển của vật nuôi, cần nắm được các quy luật chung về sinh trưởng, phát dục cũng như nhu cầu cần cho sự phát triển của cơ thể và ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến quá trình này. Thực chất của quá trình sinh trưởng là biết điều khiển sự phát triển của cá thể sẽ tạo ra nhiều sản phẩm của gia súc. Quá trình sinh trưởng tuân theo những quy luật nhất định, phổ biến là quy luật phát triển theo giai đoạn, quy luật phát triển không đồng đều và quy luật phát triển theo chu kỳ.
* Quy luật phát triển theo giai đoạn Sự sinh trưởng theo giai đoạn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.