Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi hàng hóa 1. Khái niệm và đặc điểm về phát triển hàng hoá 1. Khái niệm về sản xuất - hàng hóa Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ.
Trong sản xuất con người đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cuộc sống. Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chủ yếu đóng vai trò quyết định. Kinh tế hàng hoá là một điều kiện tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thành phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, trao đổi trên thị trường. Sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan, nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ nhất định làm xuất hiện những tiền đề của kinh tế hàng hoá.
Trong lịch sử những quan hệ hiện vật tự nhiên và quan hệ hàng hoá tồn tại đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá gắn liền với xuất hiện của những tiền đề chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá. [8] Kinh tế thị trường chính là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, khi kinh tế hàng hoá ra đời, cũng có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trường được phát triển và mở rộng. [8] Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao gồm các yếu tố đầu vào của sản xuất.
Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá và thông qua thị trường. Hàng hoá là vật phẩm do lao động của con người tạo nên để trao đổi, sản xuất hàng hoá là sản xuất tạo ra sản phẩm để bán, để trao đổi phục vụ yêu cầu sản xuất và tiêu dùng. 5 Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và có thể dùng để trao đổi với các hàng hoá khác. Hàng hoá là một phạm trù kinh tế phản ánh những mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá, sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó trở thành đối tượng mua bán trên thị trường, hàng hoá có thể ở dạng hữu hình và dạng phi vật thể.
Sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhằm thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng là thứ sản phẩm để trao đổi, thông qua lưu thông trên thị trường thực hiện giá trị và mang lại hiệu quả để tái sản xuất chứ không phải để tự cấp, tự túc, tự sản, tự tiêu. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá là hao phí lao động để tạo ra hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá là cơ sở chung của sự trao đổi, giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị hàng hoá là nội dung là cơ sở của sự trao đổi. Người sản xuất làm ra hàng hoá để bán, nên mục đích của nó là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng. Trong tay người sản xuất có giá trị sử dụng nhưng cái mà họ quan tâm là giá trị hàng hoá. Người sản xuất chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để đạt được mục đích giá trị.
Ngược lại, người mua cần có giá trị sử dụng, nhưng muôn có giá trị sử dụng nhưng trước hết phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó, tức là phải thực hiện được giá trị hàng hoá thì mới chi phối được giá trị sử dụng. Như vậy, giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất với nhau ở một hàng hoá. Quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian, quá trình thực hiện giá trị được tiến hành trước và trên thị trường, quá trình thực hiện giá trị sử dụng được diễn ra sau và trong lĩnh vực tiêu dùng. [24] Do sản xuất hàng hoá là quá trình sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bán, nên chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trình độ của sản xuất hàng hoá là 6 chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hoá trong tổng sản phẩm của người sản xuất.
Chỉ tiêu này có thể tính bằng tỷ lệ về mặt hiện vật, nếu trong cơ cấu sản phẩm là đồng nhất, có thể so sánh được về lượng hiện vật. Chỉ tiêu tỷ trọng hàng hoá tính theo lượng hiện vật cũng có thể được sử dụng để phân tích trình độ sản xuất hàng hoá, khi sản phẩm nằm trong cùng một nhóm có tính chất gần như nhau. Bên cạnh tỷ suất sản phẩm hàng hoá tính theo tỷ lệ hiện vật, người ta còn sử dụng chỉ tiêu tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hoá. Đây là chỉ tiêu phổ biến khi nghiên cứu trình độ sản xuất hàng hoá của một đơn vị kinh doanh, hoặc một vùng kinh tế.
Để tính chỉ tiêu này, có thể so sánh giữa tổng giá trị sản phẩm hàng hoá nói chung với tổng giá trị sản lượng của doanh nghiệp. Khi tính tỷ suất sản phẩm hàng hoá bằng giá trị cần lưu ý rằng, nếu muốn so sánh chỉ tiêu này qua các năm, thì người ta có thể dùng giá cố định, hoặc cũng có thể dùng giá hiện hành. Nếu để so sánh trình độ sản xuất hàng hoá của các đơn vị trong cùng năm, người ta thường dùng giá hiện hành để tính toán. Việc phân tích trình độ sản xuất hàng hoá được dựa chủ yếu vào chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hoá.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu đó, sẽ chưa nói lên trình độ của sản xuất hàng hoá là cao hay thấp. Để khắc phục hạn chế trên, người ta còn dùng chỉ tiêu qui mô giá trị sản phẩm hàng hoá. Thông thường khi sử dụng chỉ tiêu tỷ suất hàng hoá đều kèm theo chỉ tiêu qui mô giá trị sản phẩm hàng hoá. Ngoài ra để đánh giá trình độ sản xuất hàng hoá của từng loại nông sản, người ta còn sử dụng chỉ tiêu cơ cấu giá trị nông sản hàng hoá.
Điều kiện để có sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là luât khách quan của đa số hình thái kinh tế, phản ánh trình độ phát triển sản xuất đó và phân công lao động càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát triển, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội phù hợp. Việc duy trì hay thay đổi về cơ cấu ngành trồng trọt hay chăn nuôi 7 không phải là mục tiêu mà là phương thức cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, mọi sự duy trì quá lâu hay thay đổi quá nhanh cơ cấu kinh tế mà không tính đến thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đều gây những thiệt hại về kinh tế. Cùng với công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu kinh tế nông thôn cũng từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, kinh tế nông thôn cũng thay đổi theo từng thời kỳ và mức độ phát triển của mỗi ngành. Kinh tế nông thôn là khu vực kinh tế quan trọng vì nó cung cấp cho toàn xã hội những sản phẩm cần thiết như lương thực thực phẩm và nguổn lao động dổi dào; trong tương lai, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, tỷ trọng của của cải vât chất đóng góp cho xã hội của khu vực kinh tế nông thôn có thể giảm nhưng khối lượng sản phẩm cung cấp vẫn không ngừng tăng lên.
Đặc điểm sản xuất chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Sản xuất chăn nuôi đã trở thành một ngành sản xuất chính trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó chăn nuôi là ngành đem lại thu nhập cao bởi chu kỳ sản xuất ngắn, giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi cao, năng suất lao động của ngành chăn nuôi có điều kiện tăng nhanh hơn so với nông nghiệp. Vì vây để phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá cần phải nắm được một số đặc điểm cơ bản sau: Chăn nuôi tiến hành trong điều kiện thời tiết khó khăn phức tạp, vì vây để phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá các địa phương và các hộ gia đình phải theo dõi và nắm vững sự biến động của điều kiện tự nhiên để chủ động tránh những biến động xấu và tranh thủ tận dụng những biến đổi theo chiều hướng tốt một cách kịp thời đảm bảo tăng trọng lượng gia súc, hạn chế mức chi phí cho sản xuất đến mức tối thiểu nhằm tăng thu nhập của hộ nông dân. Các loại gia súc, gia cầm có đặc tính sinh lý khác nhau cho nên dễ ảnh hưởng của các bệnh theo thời tiết.
Do đó việc lựa chọn giống gia súc phù hợp 8 điều kiện tự nhiên thích nghi với sự biến động thời tiết là hết sức cần thiết. Trong quá trình chăn nuôi các khâu công việc phải được làm đúng và kịp thời, đảm bảo không ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Sản xuất chăn nuôi rất phong phú và đa dạng, do vậy nông hộ phải lựa chọn giống vật nuôi sao cho phù hợp khả năng đầu tư của mình và phù hợp với nhu cầu thị trường nhằm tăng tỷ trọng nông sản hàng hoá, từ đó tăng thu nhập cho hộ nông dân. Vì vây, để sản phẩm đầu ra thị trường vẫn đảm bảo chất lượng đòi hỏi các hộ cần đầu tư hợp lý trong khâu chăm sóc vật nuôi.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi theo hướng hàng hóa 1. Nhóm yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên Vật nuôi là cơ thể sống, sự sinh trưởng phát triển và phát dục của chúng phụ thuộc vào những quy luật nhất định, các quy luật này lại chịu sự khống chế bởi điều kiện thiên nhiên phức tạp. Do vậy điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi cả về số lượng lẫn chất lượng. Đất nước khí hậu, thời tiết và vật nuôi có mối quan hệ khăng khít với nhau bằng những quy luât chặt chẽ, phức tạp; chúng ta cần phải hiểu và nắm chắc các quy luật đó để vận dụng chúng vào trong sản xuất.