Luận văn thu ngân sách nhà nước bền vững Quảng Bình - Trần Thị Bích Hường

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2009-2013. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

2014

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiểu rõ về Thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình Nền tảng phát triển địa phương

Để đảm bảo phát triển bền vững Quảng Bình, việc xây dựng thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Khái niệm này không chỉ dừng lại ở việc tăng số thu mà còn nhấn mạnh tính ổn định, công bằng, và hiệu quả trong dài hạn. Thu ngân sách bền vững đòi hỏi sự cân đối giữa các nguồn thu hiện tại và tiềm năng, đồng thời giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào các nguồn không ổn định.

Theo luận văn của Trần Thị Bích Hường (2014), thu ngân sách nhà nước bền vững được định nghĩa là một quá trình thu ngân sách đạt được mức độ tăng trưởng ổn định qua các năm, với cơ cấu thu hợp lý, đảm bảo sự công bằng, và đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, đầu tư phát triển, đồng thời tích lũy cho tương lai mà không gây áp lực lên các thế hệ sau. Điều này thể hiện trách nhiệm tài khóa liên thế hệ, góp phần củng cố an ninh tài chính quốc gia và địa phương.

Bản chất của thu ngân sách bền vững còn nằm ở khả năng thích ứng với các biến động kinh tế vĩ mô, biến đổi khí hậu và các yếu tố ngoại cảnh khác. Một hệ thống thu bền vững sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc, đảm bảo nguồn lực cho chính quyền địa phương thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với tỉnh Quảng Bình, một tỉnh có nhiều tiềm năng nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức về thiên tai và cơ cấu kinh tế, việc xây dựng một nền tài chính vững mạnh từ nguồn thu là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu phát triển bền vững toàn diện.

1.1. Bản chất và sự cần thiết của thu ngân sách bền vững tại Quảng Bình

Thu ngân sách bền vững tại Quảng Bình không chỉ là mục tiêu mà còn là nền tảng cho sự ổn định và tiến bộ kinh tế - xã hội. Bản chất của nó bao gồm việc duy trì tốc độ tăng trưởng thu đều đặn, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn thu dễ biến động như tài nguyên thiên nhiên, và đảm bảo nguồn lực đủ để thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu công thiết yếu. Theo Hường (2014), sự cần thiết của thu ngân sách theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh xuất phát từ yêu cầu phải tự chủ về tài chính, giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân sách Trung ương, đồng thời tạo không gian tài khóa để ứng phó với các thách thức trong tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng đối với Quảng Bình, một tỉnh đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đòi hỏi nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển hạ tầng và con người.

1.2. Các tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo nguồn thu ổn định Quảng Bình

Để đánh giá tính bền vững của thu ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Bình, cần xem xét nhiều tiêu chí quan trọng. Các tiêu chí này bao gồm tỷ lệ thu ngân sách trên GDP, tốc độ tăng trưởng thu ngân sách qua các năm, cơ cấu các nguồn thu (như thu nội địa, thu từ xuất nhập khẩu, thu từ dầu thô), mức độ ổn định của các nguồn thu chủ yếu, tính công bằng trong chính sách thu, hiệu lực của bộ máy thu và việc sử dụng nguồn thu minh bạch, hiệu quả (Hường, 2014). Điều kiện để đảm bảo nguồn thu ổn định Quảng Bình bao gồm: một nền kinh tế tăng trưởng ổn định, chính sách thu hợp lý và minh bạch, hệ thống pháp luật đầy đủ, và đội ngũ cán bộ thu có năng lực. Việc đáp ứng các điều kiện này sẽ giúp Quảng Bình xây dựng một hệ thống tài chính công vững mạnh, hỗ trợ cho phát triển bền vững dài hạn.

II. Thực trạng thu ngân sách Quảng Bình Phân tích giai đoạn 2009 2013 và thách thức hiện tại

Nghiên cứu về thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình không thể bỏ qua việc phân tích sâu sắc thực trạng trong quá khứ, đặc biệt là giai đoạn 2009-2013. Giai đoạn này đánh dấu nhiều biến động kinh tế cả trong nước và quốc tế, tác động trực tiếp đến khả năng huy động nguồn lực của các địa phương, trong đó có Quảng Bình. Việc hiểu rõ những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế và thách thức tồn tại, là cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp cho tương lai.

Theo luận văn của Trần Thị Bích Hường (2014), thực trạng thu ngân sách tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2009-2013 đã đạt được những thành tựu nhất định về tăng trưởng tổng thu. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn về cơ cấu và tính ổn định của các nguồn thu cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục để đảm bảo tính bền vững. Sự phụ thuộc vào một số ngành, lĩnh vực cụ thể, cùng với biến động của các yếu tố bên ngoài, đã tạo ra những rủi ro nhất định cho nguồn thu ngân sách địa phương Quảng Bình. Những phân tích này giúp nhận diện rõ hơn bức tranh tài chính của tỉnh trong quá khứ, từ đó đưa ra những dự báo và định hướng chính sách hiệu quả hơn.

Bên cạnh các yếu tố nội tại, bối cảnh kinh tế vĩ mô cũng đặt ra nhiều thách thức chính đối với thu ngân sách Quảng Bình. Tình hình quốc tế và trong nước với những diễn biến phức tạp về thương mại, đầu tư, và biến đổi khí hậu đều ảnh hưởng đến khả năng tạo ra nguồn thu của tỉnh. Một hệ thống thu ngân sách bền vững cần có khả năng chống chịu và thích ứng với những biến động này, đồng thời khai thác hiệu quả các cơ hội mới để tăng cường nguồn lực tài chính công. Việc nhận diện và đánh giá các thách thức này một cách toàn diện là bước đi quan trọng để xây dựng các giải pháp mang tính chiến lược.

2.1. Đánh giá tổng quan tình hình thu ngân sách tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2009 2013

Tình hình thu ngân sách tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2009-2013 cho thấy sự tăng trưởng về tổng số thu, tuy nhiên vẫn tồn tại những đặc điểm cần phân tích kỹ lưỡng về tính bền vững. Các số liệu thu ngân sách nhà nước qua từng năm cần được xem xét cùng với tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh để đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực. Theo Hường (2014), cơ cấu thu ngân sách Quảng Bình trong giai đoạn này còn bộc lộ một số điểm yếu như tỷ trọng thu từ một số ngành còn thấp, hoặc sự phụ thuộc vào các khoản thu không thường xuyên. Việc phân tích tỷ lệ thu ngân sách/GDP và mức độ ổn định của các nguồn thu là yếu tố cốt lõi để đánh giá tính bền vững của nguồn lực tài chính địa phương.

2.2. Khó khăn hạn chế và bối cảnh tác động đến hiệu quả thu ngân sách Quảng Bình

Quảng Bình đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế trong việc đảm bảo hiệu quả thu ngân sách và tính bền vững của nó. Các yếu tố như cơ cấu kinh tế chưa đa dạng, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, và ảnh hưởng của thiên tai thường xuyên đã tác động tiêu cực đến nguồn thu. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước theo hướng bền vững ở tỉnh Quảng Bình bao gồm những biến động của kinh tế toàn cầu, chính sách thương mại quốc tế, cũng như các yếu tố nội tại như năng lực quản lý của bộ máy thu và ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người dân và doanh nghiệp (Hường, 2014). Việc nhận diện rõ những thách thức này là cơ sở để tỉnh đề ra các chiến lược và giải pháp tăng thu ngân sách bền vững Quảng Bình trong dài hạn.

III. Giải pháp tăng cường quản lý thu ngân sách bền vững tỉnh Quảng Bình Hướng đi then chốt

Để xây dựng một hệ thống thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình, việc tăng cường quản lý thu ngân sách Quảng Bình là một trong những giải pháp then chốt. Quản lý thu hiệu quả không chỉ giúp tối đa hóa nguồn lực hiện có mà còn tạo môi trường kinh doanh minh bạch, khuyến khích các hoạt động kinh tế hợp pháp. Điều này bao gồm việc hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cán bộ, và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo rằng mọi khoản thu đều được nộp đầy đủ, kịp thời và đúng quy định pháp luật.

Một trong những trọng tâm của giải pháp tăng thu ngân sách bền vững Quảng Bình là chống thất thu và gian lận thương mại. Các hoạt động này gây thiệt hại đáng kể cho ngân sách địa phương và tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, tăng cường thanh tra, kiểm tra, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm là điều cần thiết. Cùng với đó, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế cũng góp phần nâng cao ý thức tuân thủ của cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

Ngoài ra, việc đẩy mạnh công tác quản lý ngân sách nhà nước theo hướng tiết kiệm và hiệu quả cũng đóng vai trò quan trọng. Khi chi tiêu công được quản lý chặt chẽ, minh bạch, sẽ giảm thiểu lãng phí và tạo niềm tin cho người nộp thuế. Điều này không chỉ giúp tăng khả năng tự cân đối ngân sách các cấp mà còn đảm bảo tính ổn định, bền vững của ngân sách địa phương. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý thu và chi là yếu tố quyết định sự thành công của các giải pháp này.

3.1. Tăng cường quản lý thu chống thất thu và gian lận thương mại ở Quảng Bình

Việc tăng cường quản lý thu là giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình. Cụ thể, cần tập trung vào việc rà soát, hoàn thiện các văn bản pháp luật, quy trình quản lý thu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kê khai, nộp thuế, và quản lý nợ thuế. Theo Hường (2014), việc chống thất thu, chống gian lận thương mại cần được thực hiện quyết liệt thông qua các đợt thanh tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ, đặc biệt là đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Đồng thời, cần nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thuế, kiểm tra viên để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi trốn thuế, gian lận thương mại, góp phần xây dựng nguồn thu ổn định Quảng Bình.

3.2. Đẩy mạnh quản lý ngân sách địa phương theo hướng tiết kiệm hiệu quả

Bên cạnh việc tăng cường thu, quản lý thu ngân sách Quảng Bình cũng cần chú trọng đến việc quản lý chi tiêu. Đẩy mạnh công tác quản lý ngân sách địa phương theo hướng tiết kiệm, hiệu quả là yếu tố then chốt để tăng mức độ tự cân đối ngân sách, đảm bảo tính ổn định và bền vững của ngân sách nhà nước. Điều này đòi hỏi các cấp chính quyền Quảng Bình phải rà soát, cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cần thiết, ưu tiên chi cho đầu tư phát triển và các dịch vụ công thiết yếu. Việc công khai, minh bạch các khoản chi ngân sách cũng góp phần tăng cường giám sát của người dân và cộng đồng, thúc đẩy hiệu quả thu ngân sách tổng thể.

IV. Đa dạng hóa nguồn thu và hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách Quảng Bình Tầm nhìn chiến lược

Để đạt được mục tiêu thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình, việc đa dạng hóa nguồn thu và hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách Quảng Bình là một tầm nhìn chiến lược không thể thiếu. Sự phụ thuộc quá mức vào một vài nguồn thu có thể khiến ngân sách dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế. Do đó, việc mở rộng và phát triển các nguồn thu mới, đặc biệt là từ các ngành kinh tế có tiềm năng tăng trưởng cao và thân thiện với môi trường, là điều cực kỳ quan trọng.

Một trong những giải pháp trọng tâm là thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư trong nước vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có giá trị gia tăng cao. Điều này không chỉ tạo ra công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nguồn thu ổn định Quảng Bình từ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và các khoản thu khác. Chính sách thu hút đầu tư cần được xây dựng một cách hấp dẫn, minh bạch, với các ưu đãi phù hợp nhưng vẫn đảm bảo công bằng và tuân thủ pháp luật.

Song song với việc thu hút đầu tư, việc xác định quy mô thu ngân sách hợp lý và hoàn thiện cơ cấu nguồn thu là yếu tố quyết định. Cơ cấu thu cần chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các nguồn thu nội địa bền vững, giảm bớt sự phụ thuộc vào các khoản thu không thường xuyên hoặc dễ biến động. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng cần được rà soát và điều chỉnh định kỳ để phù hợp với năng lực quản lý và điều kiện phát triển của từng cấp chính quyền địa phương, từ đó nâng cao tính chủ động và hiệu quả trong quản lý ngân sách địa phương Quảng Bình.

4.1. Thu hút đầu tư và phát triển bền vững Quảng Bình thông qua nguồn thu

Để phát triển bền vững Quảng Bình, việc thu hút đầu tư là động lực quan trọng để tạo ra nguồn thu mới. Các giải pháp bao gồm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Theo Hường (2014), thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế như sản xuất kinh doanh không chỉ tạo ra việc làm mà còn hình thành nguồn thu ổn định Quảng Bình từ thuế và phí. Việc tập trung vào các ngành kinh tế xanh, công nghệ cao, và du lịch bền vững sẽ giúp đa dạng hóa nguồn thu và giảm thiểu rủi ro môi trường, góp phần vào mục tiêu thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình.

4.2. Hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách Quảng Bình và phân cấp nguồn thu hợp lý

Việc hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách Quảng Bình là yếu tố then chốt để đảm bảo tính bền vững của nguồn lực tài chính. Điều này có nghĩa là cần tăng tỷ trọng các nguồn thu mang tính chất ổn định, lâu dài như thu từ thuế nội địa, và giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn thu không thường xuyên. Theo Hường (2014), việc xác định quy mô thu ngân sách nhà nước hợp lý, gắn với tiềm năng và mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh, là cần thiết. Đồng thời, chính sách tài khóa Quảng Bình cần xem xét việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi một cách rõ ràng, minh bạch giữa các cấp ngân sách, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động hơn trong quản lý tài chính và phát huy tối đa tiềm năng thu.

V. Quan điểm chiến lược và bài học kinh nghiệm cho thu ngân sách bền vững Quảng Bình

Để hiện thực hóa mục tiêu thu ngân sách nhà nước bền vững tỉnh Quảng Bình, cần có những quan điểm chiến lược rõ ràng và học hỏi từ các bài học kinh nghiệm của các địa phương khác. Những quan điểm này không chỉ định hướng cho việc xây dựng chính sách mà còn định hình tư duy và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội trong việc quản lý và phát triển nguồn lực tài chính công. Sự đồng thuận và quyết tâm của cả hệ thống là yếu tố then chốt để các giải pháp được triển khai hiệu quả.

Theo luận văn của Trần Thị Bích Hường (2014), một trong những quan điểm chủ yếu là coi thu ngân sách bền vững là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo phát triển bền vững Quảng Bình. Điều này hàm ý rằng không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài nếu nguồn lực tài chính không được củng cố vững chắc. Thứ hai, cần tạo lập đồng bộ các điều kiện để đảm bảo tính bền vững của thu ngân sách, bao gồm môi trường pháp lý thuận lợi, thể chế tài chính hiện đại, và nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ ba, thu ngân sách bền vững là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp trong tỉnh, trong đó ngành tài chính giữ vai trò quyết định trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm thu ngân sách bền vững từ Đà Nẵng và các tỉnh thành khác là vô cùng giá trị. Các địa phương đi trước có thể cung cấp những mô hình thành công, những bài học về cách thức vượt qua khó khăn và tận dụng lợi thế địa phương để tăng cường nguồn thu. Việc áp dụng linh hoạt những bài học này vào điều kiện cụ thể của Quảng Bình sẽ giúp tỉnh tránh được những sai lầm, đồng thời đẩy nhanh quá trình xây dựng một hệ thống thu ngân sách bền vững và hiệu quả.

5.1. Những quan điểm chủ yếu về thu ngân sách bền vững trong bối cảnh mới tại Quảng Bình

Trong bối cảnh mới, Quảng Bình cần xác định rõ những quan điểm chủ yếu để định hình chiến lược thu ngân sách bền vững. Quan điểm đầu tiên là xem thu ngân sách bền vững không chỉ là mục tiêu tài chính mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững Quảng Bình toàn diện. Hường (2014) nhấn mạnh rằng cần tạo lập đồng bộ các điều kiện đảm bảo tính bền vững của thu ngân sách, từ cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực quản lý, đến ứng dụng công nghệ thông tin. Quan điểm khác là khẳng định thu ngân sách bền vững là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp, trong đó ngành tài chính đóng vai trò nòng cốt, đảm bảo tính chủ động và hiệu quả trong việc huy động và quản lý nguồn lực.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương và ứng dụng tại tỉnh Quảng Bình

Việc học hỏi bài học kinh nghiệm từ các địa phương đi trước là rất quan trọng để tỉnh Quảng Bình xây dựng thu ngân sách bền vững. Luận văn của Hường (2014) đã phân tích tình hình thu ngân sách theo hướng bền vững ở Bắc Ninh và Đà Nẵng, hai địa phương có nhiều điểm sáng trong quản lý tài chính. Các bài học bao gồm việc đa dạng hóa nguồn thu, tăng cường cải cách hành chính, chú trọng phát triển kinh tế tư nhân, và quản lý chi tiêu hiệu quả. Quảng Bình có thể tham khảo những kinh nghiệm này để xây dựng các giải pháp tăng thu ngân sách bền vững Quảng Bình phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của mình, đặc biệt là trong việc phát huy tiềm năng du lịch và nông nghiệp công nghệ cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Thu ngân sách nhà nước theo hướng bền vững tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Các công trình nghiên cứu chủ yếu Mục tiêu quan trọng nhất của thu NSNN theo hướng bền vững là phát triển bền vững. Đồng thời, thu NSNN bền vững là điều kiện để phát triển bền vững. Do đó, nghiên cứu thu NSNN theo hướng bền vững cần được đặt trong khung khổ phát triển bền vững.

Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững Trước đây, các nước công nghiệp phát triển tập trung chủ yếu vào hoạt động sản xuất. Cách làm này cũng được nhiều nước đang phát triển áp dụng trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Họ rất coi trọng mục tiêu gia tăng sản lượng và tăng trưởng thông qua chỉ tiêu đánh giá về GNP và GDP. Nhìn chung trong thời kỳ này, các nước thường lấy tiêu chuẩn về tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, mức tăng thu nhập.

làm thước đo trình độ phát triển của nền kinh tế. Cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ vừa qua, nạn nghèo đói gia tăng ở các nước đang phát triển đã khiến những người nghiên cứu về phát triển tập trung mọi nỗ lực vào vấn đề cải thiện phân phối thu nhập. Quan niệm về phát triển lúc đó được chuyển hướng sang tăng trưởng gắn với bảo đảm bình đẳng xã hội và đặc biệt là vấn đề giảm đói nghèo. Chỉ tiêu này được đánh giá là một tiêu chuẩn quan trọng ngang bằng với tiêu chuẩn về hiệu quả kinh tế.

Nhưng vào đầu những năm 1980, khi sự xuống cấp nhanh chóng của môi trường đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống; trở thành 5 những thách thức thật sự đối với phát triển dài hạn thì vấn đề bảo vệ môi trường đã trở thành mục tiêu thứ ba của sự phát triển. Cũng khoảng thời gian này, thuật ngữ “phát triển bền vững” bắt đầu xuất hiện. Từ đó tới nay, đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền vững được nêu ra qua các hội nghị và hội thảo quốc tế. Khái niệm phát triển bền vững do Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên (UICN) đưa ra vào đầu thập niên tám mươi của thế kỷ XX được nhiều tổ chức quốc tế sử dụng và tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ sung và hoàn thiện.

Năm 1987, Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa phát triển bền vững là: “Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Định nghĩa đơn giản này là điểm khởi đầu quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn. Các nhu cầu được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai đòi hỏi phải chuyển giao các nguồn lực sẵn có từ thế hệ này sang thế hệ khác: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các nguồn vốn, các năng lực của con người… Đến Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002, khái niệm phát triển bền vững được làm rõ hơn, theo đó, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng vấn đề này đã được các nhà khoa học rất quan tâm. Kế thừa các kết quả nghiên cứu của thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã bàn sâu hơn và gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam. - “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” (1997), công 6 trình khoa học của Phạm Xuân Nam. Trong công trình này, trước khi bàn đến đổi mới chính sách, tác giả đã bàn đến vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng đến chính sách là phát triển bền vững.

Trên cơ sở khái niệm của thế giới, tác giả cho rằng có 5 hệ chỉ báo, tức là 5 nội hàm phát triển bền vững: Phát triển xã hội; phát triển kinh tế; bảo vệ môi trường; phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. - “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank. - “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” đã đưa ra nhiều vấn đề cần ưu tiên để thực hiện phát triển bền vững, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để phát triển bền vững về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững; thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương.

- “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các 7 nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam. - “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” (2006) là đề tài khoa học cấp Bộ do PGS.

Hà Huy Thành làm chủ nhiệm, Viện nghiên cứu Môi trường và phát triển bền vững là cơ quan chủ trì thực hiện. Đề tài đã nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành và phát triển của khái niệm, khung khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới. Trên cơ sở đó, rút ra những bài học về phát triển bền vững phù hợp với điều kiện của Việt Nam. - “Bàn thêm về phát triển bền vững” đăng trên Tạp chí nghiên cứu phát triển bền vững số tháng 6/2006 của Bùi Tất Thắng, Viện chiến lược - Bộ Kế hoạch và đầu tư.

Bài báo đã phân tích phát triển bền vững về mặt kinh tế để thực hiện phát triển bền vững là tốc độ tăng trưởng phải cao và quan trọng là có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cùng với việc nâng cao đời sống của dân chúng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên… - “Phát triển bền vững của Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội - 2007, GS. Nguyễn Quang Thái và PGS. Ngô Thắng Lợi đã nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển của kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian đổi mới, phân tích những yếu tố hay điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện phát triển bền vững, trong đó có đề cập đến những nội dung của vấn đề tăng trưởng với chất lượng cao thể hiện ở những tiêu chí như xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Mặc 8 dù, chưa đề cập trực tiếp đến khái niệm phát triển kinh tế bền vững nhưng cũng đã đưa ra những tiêu chí và nội dung của phát triển kinh tế bền vững.

- Một số bài báo khác cũng đã bàn đến phát triển bền vững, với tư cách là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế ở nước ta. Chẳng hạn, “Kinh tế - xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng hội nhập phát triển bền vững” của Nguyễn Mạnh Hùng; “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - những rào cản cần vượt qua” của Nguyễn Văn Thương; “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam” của Phạm Ngọc Trung… Các bài báo này đã nghiên cứu và bàn luận đến những vấn đề xoay quanh việc sử dụng các nhân tố được chú ý và cần phải tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả để nhằm tạo ra sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Các vấn đề đã được các tác giả trên nghiên cứu là những khía cạnh khía cạnh khác nhau và một số tiêu chí liên quan đến phát triển bền vững gắn với điều kiện Việt Nam. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn thu của NSNN - Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thuế TNDN của tác giả Phan Thị Thanh Dương - Khoa Luật Thương Mại, trường Đại học Luật TP.

Hồ Chí Minh (Đăng tải trên website http://www. Trong đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của Luật thuế TNDN, đi sâu, làm rõ chi tiết từng nội dung mà Luật chưa đề cập đến, đề ra những giải pháp hoàn thiện cho phù hợp với thực tế đòi hỏi. - Hoàn thiện luật thuế TNDN nhóm tác giả đăng tải trên website http://tanphu. Bài viết đã phân tích được những ưu nhược điểm của Thuế TNDN, đề ra các giải pháp hoàn thiện về mặt thuế suất, chi phí được trừ, ưu đãi thuế, vấn đề chống chuyển giá.

- Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý: “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” của Vũ Thị Mai (Học viện Chính 9 trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005), nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình đổi mới từ 1990 đến nay. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam từ năm 2010. - Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Chiến lược cải cách hệ thống chính sách thuế, phí giai đoạn 2011 - 2020” của TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ