CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO 1. KHÁI QUÁT VỀ NNL TRÌNH ĐỘ CAO. Một số khái niệm Từ điển tiếng Việt, trung tâm từ điển, nhà xuất bản Đà nẵng, 1997 a.Nhân lực: là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực, trí lực của họ được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất.Nguồn nhân lực: Thuật ngữ “nguồn nhân lực” thường được mô tả như là sự kết hợp các chức năng nhân sự hành chính truyền thống với việc thực hiện, mối quan hệ của các nhân viên và lập kế hoạch nguồn lực. Nguồn nhân lực có hai cách hiểu tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Cách hiểu thứ nhất được bắt nguồn từ lĩnh vực kinh tế học và kinh tế chính trị, theo truyền thống thường được gọi là lao động. Lao động với tư cách như là một trong bốn nhân tố của sản xuất. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn đầu vào của sản xuất bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Cách hiểu thứ hai được sử dụng phổ biến hơn thiên về chất lượng của nguồn nhân lực – là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người, có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân, một tổ chức, một quốc gia.
Harbison: “Nguồn nhân lực là sức lực, kĩ năng, tài năng và tri thức của những người trực tiếp tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ hữu ích” [9]. Các cách tiếp cận khác nhau đều có điểm chung là nguồn nhân lực được Luan van 8 nghiên cứu về số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ… Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. Cơ cấu nguồn nhân lực thường được hiểu như là cấu trúc của nguồn nhân lực, bao gồm các thành tố phân loại theo một tiêu chí nào đó cùng với tỉ trọng tương quan giữa các thành tố đó.
Nội dung cụ thể của cơ cấu nguồn nhân lực phụ thuộc vào quan niệm về nguồn nhân lực. Hướng thứ nhất cho rằng nguồn nhân lực là năng lực của những người đang tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào hoạt động lao động nào đó để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho xã hội. Trong cơ cấu chung này, người ta còn phân biệt nguồn nhân lực trình độ cao, bao gồm: Nhân lực làm việc trong các ngành kinh doanh, quản lí, hành chính ở cả các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, trong đó, có các nhà khoa học, kĩ sư, kiến trúc sư, nhà nông học, bác sĩ, các nhà kinh tế, luật sư, kế toán, nhà báo, nghệ sĩ. Đội ngũ kĩ thuật gồm những người hỗ trợ về nông nghiệp, y tá, trợ lí về cơ khí, đội ngũ kĩ thuật viên, nhân viên cao cấp, quản đốc, thợ thủ công trình độ cao, công nhân có tay nghề cao như nhân viên tốc kí; nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu, các nhà lãnh đạo về lao động, thẩm phán, các quan chức của ngành công an và quân đội.
Hướng thứ hai cho rằng: Nguồn nhân lực bao gồm lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên (Đỗ Minh Cương – 2002, Nguyễn Minh Đường và Phan Luan van 9 Văn kha – 2006). Theo quan niệm này, cơ cấu theo trình độ đào tạo thường bao gồm các thành tố sau: -Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp Đại học/Cao đẳng trở lên; - Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp; - Số lượng (tỉ lệ) lao động có bằng cấp công nhân lành nghề; - Số lượng (tỉ lệ) lao động không có bằng cấp. Từ năm 1986, Ủy ban Kinh tế và Xã hội của khu vực châu Á – Thái Bình Dương (United Nation Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) đã nghiên cứu sự phát triển về cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia khác nhau và đã tổng kết 3 mô hình về cơ cấu nguồn nhân lực cho 3 loại hình quốc gia: các nước phát triển, các nước đang phát triển, các nước chậm phát triển theo các cơ cấu nguồn nhân lực gồm 5 thành tố cơ bản được phân theo trình độ từ cao đến thấp là: (1) Các nhà sáng chế và đổi mới (bao gồm cả các nhà quản lí cấp cao) ở trình độ trên Đại học (2) Các nhà quản trị và kĩ sư ở trình độ Đại học; (3) Các kĩ thuật viên và cán bộ có trình độ Trung cấp; (4) Thợ thủ công và công nhân có tay nghề cao; (5) Các công nhân bậc thấp và lao động phổ thông. Các nước chậm phát triển có mô hình nhân lực tháp nhọn với đa số người lao động có trình độ chuyên môn thấp và chủ yếu lao động thủ công.
Nhân lực lao động trình độ cao (đại học, sau đại học) chiếm tỉ lệ rất ít. Các nước đang phát triển có mô hình nhân lực tam giác với số lao động có trình độ Trung cấp và Đại học cao hơn các nước chậm phát triển, nhưng còn rất ít các nhà phát minh, sáng chế. Các nước này đang nỗ lực phát triển hệ Luan van 10 thống đào tạo nhân lực trình độ cao (cao đẳng, đại học và sau đại học) để nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực. Các nước đã phát triển có mô hình nhân lực hình trứng với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có đội ngũ các chuyên gia cao cấp các nhà phát minh sáng chế ở các trình độ đào tạo khác nhau không nhất thiết là ở trình độ Đại học.
Các nước này có hệ thống giáo dục Đại học và nghiên cứu phát triển với tỉ lệ cao số dân trong độ tuổi 18 - 35 đi học Đại học [9]. Nguồn nhân lực trình độ cao. Tùy vào cách tiếp cận dựa trên hiệu quả năng suất của lao động hoặc dựa trên trình độ được đào tạo đã có các khái niệm khác nhau về nguồn lao động trình độ cao: Dựa trên trình độ được đào tạo của nguồn lao động: Nguồn lao động trình độ cao bao gồm những người lao động qua đào tạo có trình độ từ Đại học, Cao đẳng trở lên. Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa được Cộng đồng châu Âu (EU) áp dụng: “Nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ phải thỏa mãn 01 trong 02 tiêu chí: hoặc có trình độ Đại học hoặc chưa chính thức đủ bằng cấp nhưng đã từng làm việc trong lĩnh vực khoa học – công nghệ ở vị trí của người phải tốt nghiệp Đại học” [25].
Về mặt hình thức, nếu xét về bằng cấp thì sức lao động trình độ cao bao gồm những người được tạo một cách có hệ thống và có bằng cấp. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả những người có bằng cấp đều là sức lao động có trình độ cao, mà sức lao động đó phải đem lại hiệu quả cao đối với những công việc cụ thể, hành vi của người đó không chỉ biểu hiện ở mức độ kỹ năng, mà còn trở thành kỹ xảo. Luan van 11 “Một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung bình, là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí đào tạo cao hơn, người ta phải tốn nhiều thời gian lao động để tạo ra nó và vì vậy nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn. Nếu giá trị của sức lao động đó cao hơn thì giá trị đó cũng biểu hiện ra trong một lao động cao hơn và vì vậy, trong những khoảng thời gian bằng nhau, nó sẽ được vật hóa trong các giả trị tương đối lớn hơn”[15, tr 29].
Dựa trên hiệu quả, năng suất của người lao động: Nguồn lao động trình độ cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của đơn vị riêng và cho toàn xã hội nói chung. Tiếp cận dưới góc độ chất lượng nguồn nhân lực, Lê Thị Hồng Điệp đã định nghĩa: “Nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những lao động đã qua đào tạo, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo và có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc tương ứng với trình độ được đào tạo (trừ một số trường hợp đặc biệt không qua đào tạo); từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung” [5]. Ngô Quý Tùng đã đưa ra yêu cầu các tố chất toàn diện của một chuyên gia nghiên cứu và triển khai – R&D trên hình 1-2. Ông đã nhấn mạnh các yếu tố: “Phẩm chất tư tưởng, tri thức và tính sáng tạo là những tiêu chí quyết định của chuyên gia”.
Luan van 12 Năng lực tư Phẩm chất duy tư tưởng Khả năng phục tùng mệnh lệnh Tính sáng tạo Tiêu chuẩn Khả năng hợp chuyên gia Tri thức tác với người văn hóa khác Năng lực kế thừa Tri thức tính sáng tạo của khoa học người khác Lịch sử cá nhân, gia đình… Nguồn: [23 - trang 54] Hình 1.1: Biểu đồ yêu cầu tố chất nhân tài kinh tế tri thức Nguồn nhân lực chất lượng cao là mối tổng hòa về tố chất tự nhiên của con người; trình độ chuyên môn được đào tạo và tích lũy; tri thức văn hóa, những kỹ năng cũng như tinh thần khát khao sáng tạo của con người trong môi trường sống. Vốn con người cấu thành từ ba nhân tố chính: (1) năng lực ban đầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người, (2) những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạo chính quy, (3) các kỹ năng, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm tích lũy từ quá trình sống và làm việc.