Chương 1: Tổng quantình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Chương 2: Lý luận chung về đầu tư công và đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Chương 3: Thực trạng của hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2019. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nƣớc ngoài Trong tất cả các quốc gia trên thế giới, ĐTC cho nền kinh tế luôn là mục tiêu, giải pháp tồn tại và phát triển nền KT - XH của quốc gia. Trên cơ sở đặc điểm, điều kiện nền KT - XH của từng nước mà việc sử dụng và phát huy vốn ĐTC hiệu quả là một đường lối chiến lược phát triển của quốc gia đó. “Public Investment Magagement in the EU” của Thomas Laursen và cộng sự (2008) nhận định rằng quản lý ĐTC là một trong những thách thức đối với tất cả các quốc gia thành viên EU. Nghiên cứu dựa trên sự khảo sát của 7 quốc gia thành viên, trong đó có các quốc gia có nền kinh tế phát triển ở Châu Âu.
Đồng thời cũng xem xét quản lý đầu tư công trong tất cả các giai đoạn của dự án, song nhấn mạnh đến lập kế hoạch, thẩm định và lựa chọn các dự án này. Nghiên cứu đúc rút: Chiến lược ĐTCphải gắn bó chặt chẽ với ngân sách, vốn dự án cần được cam kết dài hạn, cần đánh giá lợi ích – chi phí dự án đầu tư công, thực hiện kiểm toán và báo cáo hiệu quả nhằm tăng cường tính minh bạch và thông tin phản hồi v. “Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management” của Anand Rajaram và cộng sự (2010), công trình đã khẳng định: Quản lý ĐTC có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KT - XH. Vì vậy cần phải quan tâm tới quá trình lựa chọn chủ thể, biện pháp và đối tượng quản lý cụ thể tránh cách làm chung chung trong quản lý ĐTC.
Nghiên cứu đã đề xuất 8 đặc trưng cơ bản của một hệ thống ĐTChiệu quả và xây dựng khung khổ chuẩn đoán khi đánh giá các giai đoạn chính trong quy trình quản lý đầu tư công. Từ đó làm căn cứ để khuyến khích các chính phủ tiến hành công tác tự đánh giá hệ thống ĐTCcủa mình và đưa ra những cải cách để tăng cường những hiệu quả của ĐTC. “Investing in Public Investment: An Index of Public Investment Efficiency” của Zac Mills và cộng sự (2011), công trình nghiên cứu đi sâu phân tích khung lý 6 luận về đầu tư, trên cơ sở đó làm căn cứ so sánh đánh giá ĐTCvới các loại hình đầu tư khác. Kết luận nhìn từ góc độ quản lý cho thấy: quản lý nhà nước về ĐTC có tính phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý gắn với các công đoạn của quy trình đầu tư.
Đồng thời cũng chỉ ra cơ quan quản lý có vai trò, chức năng, nhiệm vụ như người tư lệnh đứng đầu và chịu trách nhiệm trước các cá nhân.Nghiên cứu cũng đưa ra những chỉ số cơ bản để đánh giá hiệu quả của đầu tư công. Trong đó, nhấn mạnh thể chế phù hợp là cơ sở để quản lý đầu tư công đạt hiệu quả cao qua 4 giai đoạn khác nhau: thẩm định dự án, lựa chọn dự án, triển khai và đánh giá dự án. “Creating Conditions for Effective Public Investment: Sub-national Capacities in a Multi-level Governance Context”của tác Mizell và các cộng sự (2013): Bài viết đi sâu phân tích những ràng buộc của chính quyền địa phương, nơi thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đây chính là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề quản lý nhà nước trong ĐTC.Vì vậy, bài viết tập trung vào cách xác định khả năng cho phép để chính quyền địa phương thiết kế và thực hiện chiến lược đầu tư công đối với phát triển khu vực.
Và cung cấp hướng dẫn thực tế để đánh giá và tăng cường các năng lực trong bối cảnh quản trị đa cấp. “Making Public Investment More Efficient” của Quỹ tiền tệ quốc tế (2015): Báo cáo tổng quát khẳng định vai trò ĐTCtrong việc mang lại dịch vụ công chủ yếu, gắn kết người dân và tạo ra các cơ hội kinh tế, góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tác động KT - XH của đầu tư công lại phụ thuộc vào hiệu quả của nó.Hiệu quả ĐTClại phụ thuộc chỉ yếu vào quan lý của Chính phủ ở các nền kinh tế khác nhau. Vì thế quốc gia nào có các tổ chức quản lý ĐTCmạnh, hiện đại thì sẽ có các khoản đầu tư hiệu quả hơn, mang lại những tác động tốt hơn, thậm chí là có thể thu hẹp tới 2/3 khoảng trống hiệu quả ĐTC.
Ha-Joon Chang (2018) đã chỉ ra rằng: Tỷ suất đầu tư (GFCF/GDP) có mối quan hệ không thể bác bỏ đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Để được đưa vào sử dụng, hầu hết các công nghệ đều cần được gán với TSCĐ, như 7 máy móc và kết cấu.Vậy nên nếu thiếu đi tích lũy TSCĐ (Gross fixed capital formation – GFCF), một nền kinh tế khó có thể phát triển được. Tóm tắt nghiên cứu “The Future of Universities in a Knowledge Economy” của Phòng kinh doanh, đổi mới và kỹ năng của Vương quốc Anh (2009) cho thấy Vương quốc Anh là quê hương của sự “bất cân xứng” giữa các nghiên cứu hàng đầu thế giới: Với một phần trăm dân số thế giới, Vương quốc Anh đã đạt được 12% số các trích dẫn khoa học của thế giới trong năm 2007/08. Nghiên cứu cho thấy bài học thành công của nước Anh trong giáo dục đại học được thể hiện trong cam kết tự chủ về thể chế trong khuôn khổ các giá trị và mục tiêu chung.
Được tự do xác định các chiến lược của mình để đạt được ưu tiên hàng đầu. Các trường đại học tại đây đã đổi mới và thích nghi với cách thức mới để phục vụ sinh viên và đóng góp cho quốc gia của mình. Do vậy, tự chủ trong giáo dục đại học có ý nghĩa quan trọng trong xu thế nền kinh tế tri thức. “University Autonomy in Europe: Exploratory study” của Estermann T và cộng sự (2009) cho biết tự chủ đại học bắt đầu từ những năm 1970 trở đi và đã làm cho tổ chức đại học khu vực công hoạt động hiệu quả hơn, một phần giống như kinh doanh hơn, định hướng kết quả và có trách nhiệm hơn (thông qua việc cho họ quyền tự chủ hơn trong hành động chiến lược, tăng quan hệ hợp đồng và đánh giá hiệu suất).
Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp nền tảng cho cơ sở dữ liệu có thể so sánh trên toàn châu Âu thông qua phân tích các khía cạnh quan trọng nhất định của tự chủ. Nó cũng nhằm mục đích đưa quan điểm thể chế (tức là tự chủ thực sự có ý nghĩa gì trong thực tế) vào cuộc tranh luận về tự chủ và cải cách quản trị ở cấp chính sách. Theo quan điểm về phạm vi rộng của các định nghĩa về tự chủ, nghiên cứu này được sử dụng làm điểm khởi đầu cho bốn khía cạnh cơ bản được nêu ra trong tuyên bố của EUA Lisbon (2007), đó là tự chủ về học thuật, tài chính, tổ chức và nhân sự. Trong đó, tự chủ về học thuật phản ánh quyền tự do của các tổ chức giáo dục bậc cao trong việc xác định hồ sơ học tập, chương trình giảng dạy cũng như các quy tắc và giới hạn tuyển sinh.
8 Nghiên cứu “Increased autonomy for universities in Asia: How to make it work?” của Martin M (2013) bằng việc nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia châu Á (Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Việt Nam) cho thấy tự chủ được xem là phương tiện để cải thiện hệ thống giáo dục của các quốc gia. Trong trường hợp điển hình của Việt Nam với đặc thù chính phủ phi tập trung, Việt Nam đang thiếu sự phối hợp giữa các cấp quốc gia và khu vực liên quan đến các quy định về quản lý tài chính cho tự chủ đại học. Điều này tạo ra sự không chắc chắn và không nhất quán trong quản lý giáo dục và đại học. Nghiên cứu cho rằng không có mô hình nào chung cho việc mở rộng tự chủ cho các trường đại học.
Tuy nhiên để mở rộng tự chủ cần có sự phối hợp giữa các chính sách, cần phải được tiến hành tuần tự trong các tổ chức giáo dục bậc cao, gia tăng tự chủ đòi hỏi sự lãnh đạo mạnh mẽ nhằm đảm bảo hiệu quả cũng như cần có các chính sách để ngăn ngừa các tác động không mong muốn v. Các công trình nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam Trên cơ sở đó, các nghiên cứu về ĐTC và công tác quản lý ĐTC cho thấy hoạt động đầu tư này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt là đối với sự phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư công tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào đầu tư xây dựng cơ bản, do đó các nghiên cứu về hoạt động ĐTC trong lĩnh vực này khá đa dạng. Cụ thể: Nghiên cứu “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước” của tác giả Trần Văn Hồng (2002) đã khẳng định tính cấp thiết của việc đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn ĐTC theo hướng xóa bỏ tính bao cấp, tăng cường trách nhiệm đối với chủ đầu tư, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của cơ quan quản lý nhà nước đối với quá trình đầu tư của doanh nghiệp.
Tạ Văn Khoái (2009) trong nghiên cứu: “ Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước tại Việt Nam” đã phân tích nội dung hoạt động quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước trong các giai đoạn của quy trình dự án , bao gồm 05 nội dung chủ yếu: hoạch định kế hoạch đầu tư xây dựng; xây dựng khung pháp luật; ban hành và thực hiện cơ chế; 9 tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát. Thông qua 05 nội dung hủ yếu được trình bày, luận án chỉ ra sự phù hợp về quản lý nhà nước trong từng giai đoạn thực hiện quy trình thực hiện dự án đầu tư.