CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THU HUT FDI “XANH” HUONG DEN PHÁT TRIEN BEN VUNG TREN DIA BAN CAP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thu hút FDI xanh hướng đến phat triển bền vững 1. Các nghiên cứu về lý luận liên quan đến FDI xanh hướng đến phát triển bền vững Vito Amendolagine, Rasmus Lema va Roberta Rabellotti (2020) trong nghiên cứu “Green foreign direct investments and the deepening of capabilities for sustainable innovation in multinationals: insights from renewable energy” đã đề cập đến hiện trang các công ty đa quốc gia (MNEs) dé dat được lợi nhuận của mình thi thường có những hành vi sai trái về môi trường, tránh các quy định về môi trường khi sản xuất và sử dụng các công nghệ lạc hậu. Để các công ty đa quốc gia này có thể giảm tác hại đến môi trường hay tăng các hoạt động đầu tư hỗ trợ môi trường, tác giả đã tập trung nghiên cứu về yếu tố quyết định đến khía cạnh nay là vai trò của FDI xanh.
Trong đó, bài nghiên cứu đã chỉ ra 3 vai trò chủ yếu: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh nâng cao định hướng về sự phát triển bền vững tổng thể của các công ty đa quốc gia, cụ thể là tác dụng phủ xanh công nghệ và tăng cường chuyên môn hóa. Thứ hai, FDI xanh có tác động tích cực đến mức độ và chất lượng đổi mới của các công ty đa quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ bền vững. Thứ ba, về lâu dài, đầu tư FDI xanh dưới hình thức các công ty con mới thành lập sẽ đóng góp nhiều hon cho đổi mới sáng tạo và xanh hóa nền kinh tế hơn so với việc mua lại các công ty nước ngoài. Những phát hiện này của bài nghiên cứu mang ý nghĩa quan trọng dé các quốc gia, đặc biệt là các MNCs có những chính sách hợp ly dé tăng cường qua trình chuyên đổi bền vững.
Golub, Céline Kauffmann and Philip Yeres (2011) trong nghiên cttu “Defining and measuring green FDI: An exploratory review of existing work and evidence”: một nghiên cứu thăm dò tom tắt các công việc hiện có của OECD và các tô chức khác, điều tra tính khả thi của các định nghĩa khác nhau về FDI xanh. Từ các nghiên cứu trước đó, tác giả đánh giá FDI xanh có thê được định nghĩa theo hai khía cạnh: 1) FDI trong các lĩnh vực EGS; 2) FDI trong các quá trình giảm thiểu thiệt hại về môi trường, tức là sử dụng các công nghệ sạch hơn hoặc tiết kiệm năng lượng hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu và đánh giá đóng góp của FDI đến môi trường cũng như chứng minh tiềm năng cho FDI xanh trong tương lai là rất lớn. Tuy nhiên đóng góp của FDI để tài trợ cho đầu tư vào hàng hóa và dịch vụ môi trường ngành dịch vụ (EGS) và chuyền giao công nghệ và thực tiễn thân thiện với môi trường cho đến nay nhận được ít sự chú ý hơn bởi chưa có bất kỳ hệ thống nào đề xác định, ước tính và đo lường FDI xanh.
Trần Thị Thanh Tú , Đỗ Hồng Nhung, Vũ Thị Hà và Đỗ Nguyễn Nguyệt Minh (2020) trong nghiên cứu “The factors affecting green investment for sustainable development”: Nghiên cứu nay xác định va đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư xanh tại Việt Nam bằng phương pháp Phân tích nhân tô khám phá (EFA) để xử lý bộ dữ liệu từ 208 doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau trong năm 2018. Kết qua cho thay hau hết các yếu tố được đưa vào khảo sát đều đáng tin cậy, duy trì ý nghĩa thống kê và hội tụ vào nhóm các yêu tô. Đáng chú ý, nhóm yếu tố về nhận thức đầu tư xanh, nhận thức tiếp cận vốn xanh, vai trò của Chính phủ, công cụ huy động vốn xanh có tác động đáng ké đến việc thực hiện đầu tư xanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở đó,tác giả đề xuất các khuyến nghị tập trung vào vai trò trung tâm của Chính phủ, khung pháp lý, đa dạng hóa tài chính xanh và các công cụ huy động vốn xanh; nâng cao nhận thức của doanh nghiệp trong việc tiếp cận và sử dụng các công cụ huy động vốn này cũng như đây mạnh truyền thông đầu tư xanh.
Đỗ Phú Hải (2018) trong nghiên cứu “Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam” đã sử dung phương pháp nghiên cứu so sánh tổng hợp dé rà soát, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt, tính phổ quát và đặc thù trong các lý luận về phát triển bền vững, kinh tế xanh và ứng phó biến đồi khí hậu, hệ sinh thái phát triển. Sự tương đồng thể hiện là phát triển đều gắn với bảo vệ TNMT, không chỉ bao gồm mục tiêu kinh tế mà nó còn mở rộng bao gồm cả các mục tiêu xã hội và môi trường, sinh thái. Sự khác biệt lớn nhất là kinh tế xanh và ứng phó biến đổi khí hậu lại đặt TNMT và con người ở trung tâm của sự phát triển. Về tính đặc thù, tăng trưởng xanh, kinh tế xanh lại không thay thế khái niệm PTBV mà là công cụ thực hiện PTBV trong bối cảnh BĐKH, trong đó nhấn mạnh nhiều hơn tới khía cạnh TNMT.
Các nghiên cứu về tác động của thu hút FDI xanh đến phát triển bên vững Javad Izadi (2021) trong nghiên cứu “Effect of foreign direct investment on sustainable development goals? Evidence from Eurasian countries” được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu tac động tiềm năng của FDI đối với sự phat trién bền vững ở các nước Á-Âu. Nghiên cứu này xem xét một mẫu gồm 78 quốc gia Á-Âu, được phân biệt rõ hơn bởi các tầng lớp thu nhập của họ. Trong nghiên cứu này, các biến liên quan đến chỉ tiêu chính phủ được xem xét để dự đoán mối liên hệ tích cực với biến chỉ số SDG. Tác giả đã áp dụng mô hình hồi quy hiệu ứng có định dé điều tra mỗi quan hệ giữa FDI và chỉ số SDG.
Phát hiện của tác giả cho thấy rang có một tác động tích cực và đáng ké của FDI đối với chỉ số SDG. Hon nữa, kết quả cũng chỉ ra rằng vai trò của FDI càng quyết định và cơ bản hơn đối với tầng lớp thu nhập thấp của các quốc gia. Emmanuel Caesar Ayamba, Chen Haibo và các cộng sự (2020) trong nghiên cứu “The impact of foreign direct investment on sustainable development in China” đã điều tra tác động của dau tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với phat triển bền vững ở Trung Quốc bằng cách sử dụng mô hình hồi quy. Các phát hiện cho thấy, thứ nhất, FDI có ảnh hưởng không đáng kể đến chất lượng môi trường trong thời gian dài nhưng hỗ trợ tài trợ cho thâm hụt vốn vật chất.
Thứ hai, tồn tại sự hiện diện của giả thuyết hào quang ô nhiễm. Ngoài ra, trong ngắn hạn, các biến số ô nhiễm (sulfur dioxide, khói và bụi) gây ra sự khác biệt đáng kê về lượng vốn FDI chảy vào Trung Quốc. Cuối cùng, đề tài đưa ra các khuyến nghị về việc các chính sách và chiến lược môi trường nên được thực hiện chặt chẽ hơn dé hạn chế các nha đầu tư nước ngoai có chất lượng kém. Nguyễn Ngọc Tiến, Ngô Thị Thanh Thủy, Lê Thị Thanh Bình (2018) trong bài viết “Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế từ góc độ phát triển bền vững: Nghiên cứu điền hình từ đánh giá ở miền Trung Việt Nam” được phân tích nhằm mục đích điều tra tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế từ góc độ phát triển bền vững với nghiên cứu trường hợp là các tỉnh Trung Trung Bộ của Việt Nam.
Hiệu quả được đánh giá thông qua 5 khía cạnh khác nhau, đó là: kinh tế, xã hội, môi trường, thé chế và lao động. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thang đo Linkert 5 bậc và thống kê mô tả dé phân tích dữ liệu từ khảo sát thực nghiệm 194 doanh nghiệp FDI, các chuyên gia và nhà quản lý đang làm việc cho các viện nghiên cứu, tô chức địa phương tại miền Trung Việt Nam. Kết quả cho thay thu hút FDI là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Dưới tác động của FDI, tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, hoàn thiện thê chế, chất lượng lao động được cải thiện đáng kê trong khi tác động của FDI đến khía cạnh môi trường còn mờ nhạt.
Ngoài ra, từ các minh chứng, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách thu hút FDI nhằm góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững ở các tỉnh miền Trung Việt Nam. Các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp thu hút FDI xanh hướng đến phát triển bền vững tại một số khu vực Phạm Thị Thùy Dương (2022) trong nghiên cứu “Giải pháp thu hút FDI xanh tại Việt Nam” đã phân tích thực trạng thu hút FDI xanh tại Việt Nam sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đôi mới. Trong đó, có thé thay Việt Nam đã dat được nhiều kết quả tích cực từ khi bắt đầu thực hiện hoạt động thu hút FDI, trở thành một quốc gia, một môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên bên cạnh đó có thể thấy đa phần các dự án FDI ở Việt Nam còn tập trung ít vào lĩnh vực tăng trưởng xanh, phát triển bền vững; nhiều dự án có mức phát thải lớn, giá trị gia tăng thấp, gây ô nhiễm môi trường.
Tác giả cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức và rào cản thực tế mà Việt Nam gặp phải khi thu hút FDI xanh. Từ đó, bài nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực trạng cần giải quyết và khả năng thực hiện của Việt Nam dé nâng cao hoạt động thu hút FDI xanh của đất nước. Hàn Thị Hạ Thư (2021) trong nghiên cứu “Phát triển FDI xanh và bền vững, nghiên cứu trường hợp tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu” tập trung nghiên cứu tình hình phát triển FDI xanh và bền vững trên địa bàn tỉnh BRVT. Qua rà soát tình hình thu hút 10 phát triển FDI và kết quả thu hút FDI tại tỉnh BRVT đã cho thấy tỉnh là một địa phương có sức hút mạnh mẽ đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đề tài cũng nghiên cứu tác động của FDI xanh và bền vững trên địa bàn tỉnh một cách toàn diện về mọi mặt, bao gồm: tac động về môi trường, về kinh tế và về xã hội.