Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, như: lý do lựa chọn đề tài, xác định các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu; quy trình và phương pháp nghiên cứu, đồng thời, cũng nói lên ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương này xây dựng khung lý thuyết cho đề tài, tác giả trình bày tập trung vào: Một số khái niệm cơ bản; các lý thuyết về FDI và ÔNMT cũng như khung cơ sở về vai trò chính phủ ở cả hai góc độ thể chế cũng như chính sách công trong mối liên hệ giữa thể FDI và môi trường. Sau đó, tác giả hệ thống lại các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan; đồng thời xác định khoảng trống nghiên cứu. Chương 3: Quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ xây dựng các mô hình thực nghiệm và đề xuất phương pháp kiểm định, bao gồm: mô hình kiểm định tác động của các nhân tố đến ÔNMT, tác động FDI đến ÔNMT; vai trò của thể chế trong mối quan hệ giữa FDI và ÔNMT và vai trò của 13 chính sách công trong mối quan hệ giữa FDI và ÔNMT.
Tại chương này, tác giả cũng trình bày việc đo lường biến và nguồn khai thác dữ liệu và các thống kê dữ liệu. Chương 4: Kết quả và thảo luận Từ mô hình thực nghiệm và dữ liệu thu thập của các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 2002 - 2014, các kỹ thuật phân tích được thực hiện. Kết quả được phân tích, đánh giá và thảo luận dựa trên cở sở lý thuyết được trình bày ở chương 2 cũng như đối chiếu với thực tiễn và các nghiên cứu học thuật trước có liên quan. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này đưa ra một số các hàm ý thiết thực về các chính sách mà chính phủ ở các nước đang phát triển nên xem xét để hoàn thiện và bổ sung các chính sách thu hút dòng vốn FDI để dòng vốn này vừa đóng góp tích cực cho các hoạt động kinh tế vừa đảm bảo sự phát triển bền vững gắn với môi trường ở các nước đang phát triển.
14 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương hai của luận án trình bày khung lý luận chính về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ÔNMT, trong đó, người viết tập trung vào nhân tố dòng vốn trực tiếp nước ngoài FDI. Để làm rõ hơn mối quan hệ giữa FDI và ÔNMT, luận án nhấn mạnh vai trò của chính phủ ở cả hai góc độ, thể chế và chính sáchcông. Qua đó, nội dung của chương cũng là điểm tựa cho các ước lượng thực nghiệm và khuyến nghị chính sách được thực hiện ở các chương sau. Đầu tiên, lược khảo nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đến mức độ ÔNMT được giải thích dựa trên nhiều cơ sở lý thuyết khác nhau, trong đó, nổi bật là giả thuyết về đường cong Kuznets –EKC và mô hình STIRPAT.
Giả thuyết về đường cong Kuznets –EKC luận giải về mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trưởng. Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của yếu tố FDI đến tăng trưởng kinh tế, trong khi tác động của yếu tố này đến ÔNMT vẫn chưa rõ ràng và chưa đạt được sự nhất trí. Theo đó, câu hỏi liệu có sự đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và bảo vệ môi trường là vấn đề được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu trước ủng hộ giả thuyết về đường cong Kuznets –EKC, song thực trạng và các bằng chứng kiểm định thực nghiệm về giả thuyết này vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều tranh luận (Cole & cộng sự, 2006; Lan & cộng sự, 2012; Solarin & cộng sự, 2017).
Trong khi đó, mô hình STIRPAT lý giải hệ sinh thái chịu tác động của các nhân tố chính dân số, công nghệ và sự sung túc (Dietz & Rosa, 1994; Dietz & Rosa, 1997; York 15 & cộng sự, 2003). Theo thời gian, mô hình STIRPAT đã được phát triển thông qua việc tinh chỉnh và cách thức đo lường các thành phần của mô hình. Thứ hai, tác động của FDI đến ÔNMT được lý giải theo nhiều cách khác biệt (Cole & cộng sự, 2006; Cole & cộng sự, 2017; Grossman & Krueger, 1995). Lược khảo cho thấy, mặc dù mối quan hệ giữa ĐTTT nước ngoài và môi trường đã được nghiên cứu trong những năm gần đây, song mối quan hệ này vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều điểm cần được giải quyết (Antweiler & cộng sự, 2001; Bakhsh & cộng sự, 2017; Cole & Elliott, 2003; Cole & cộng sự, 2006; Frankel & Rose, 2005; Hill, 2010).
Trong một số trường hợp, FDI có thể tạo ra tác động tích cực đến môi trường, tuy nhiên, FDI cũng có thể gây ra tác động tiêu cực đến môi trường trong một số trường hợp khác (Baek & Koo, 2008; D. Wang & Chen, 2014; Xing & Kolstad, 2002). Wang & cộng sự (2013), tác động của FDI đến chất lượng môi trường vẫn còn nhiều tranh luận với hai giả thuyết trái chiều. Giả thuyết “cải thiện ô nhiễm” (pollution halo hypothesis) luận giải, FDI sẽ giúp cải thiện các vấn đề môi trường (Antweiler & cộng sự, 2001; G.
Eskeland & Harrison, 2003; Zarsky, 1999). Các tập đoàn nước ngoài thực thi quản lý tốt hơn và sử dụng các công nghệ tiên tiến làm cho giảm thiểu ÔNMT ở các nước được đầu tư (Zarsky, 1999). Điều này ngụ ý rằng xu hướng thiệt hại về môi trường do ĐTTT nước ngoài không được xác nhận. Trong khi đó, giả thuyết “thiên đường ô nhiễm “(pollution haven hypothesis) nhận định, các quốc gia đang phát triển, nơi thu hút nhiều dòng vốn đầu tư FDI, sẽ dần trở thành “thiên đường ô nhiễm” so với các nước phát triển bởi quá trình công nghiệp hóa.
Để thu hút đầu tư nước ngoài, các chính phủ các nước đang phát triển có xu hướng làm suy thoái môi trường thông qua các quy định lỏng lẻo hoặc thực thi kém. Với những điều kiện này, các công ty di chuyển hoạt động đến các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế của chi phí sản xuất thấp hơn, dẫn đến ô nhiễm và suy thoái quá mức trong tiêu chuẩn môi trường của các nước được vốn ĐTTT (Aliyu & cộng sự, 2005; Arrow & cộng sự, 1995; Wheeler, 2001). 16 Thứ ba, lược khảo các công trình khoa học trước chỉ ra, chính phủ nước nhận vốn ĐTTT đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa FDI và ÔNMT, tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu thường chú trọng phân tích vai trò chính phủ ở góc độ thể chế (Cole & cộng sự, 2006; Damania & cộng sự, 2003; Gani & Scrimgeour, 2014; López & Palacios, 2014; Selden & Song, 1994; D. Wang & cộng sự, 2013).
Tiếp cận ở góc độ thể chế, trường phái kinh tế thể chế mới chú trọng phân tích vai trò quan trọng của thể chế, xem thể chế như là “nhân tố sâu”, đối với các mục tiêu xã hội như giảm nghèo, tăng trưởng hay cải thiện ÔNMT. Xem xét trong lĩnh vực nghiên cứu về các vấn đề môi trường địa phương và quốc tế, các học giả thường thực hiện các nghiên cứu theo cách tiếp cận mới gọi là kinh tế sinh thái thể chế với các nghiên cứu điển hình của Bromley (1992), Schlager & Ostrom (1992), Dietz & cộng sự (2003), Ostrom (2005), Paavola & Adger (2005) và Paavola (2007). Trọng tâm của cách tiếp cận kinh tế sinh thái thể chế này là xem xét vấn đề môi trường gắn liền với các khuôn khổ quản trị quốc gia. Cách tiếp cận này hướng đến việc thiết lập các nguyên tắc nền tảng cho các giải pháp hiệu quả giúp cải thiện vấn đề môi trường như đạt được hành động tập thể tự nguyện và sử dụng tài nguyên môi trường bền vững (Paavola, 2007).
Các nghiên cứu vai trò của chính phủ đối với môi trường ở góc độ chính sách công còn khá khiêm tốn và mối quan hệ này còn chưa rõ ràng và nhiều tranh luận (Halkos & Paizanos, 2016; Lopez & cộng sự, 2011; López & Palacios, 2014). Như Halkos & Paizanos (2016) luận giải, mặc dù việc nâng cao chất lượng môi trường không phải là mục tiêu chính của các chính sách tài khóa, tuy nhiên, các chính sách này lại tác động có ý nghĩa đến hiệu quả của các quy định môi trường và mức độ ô nhiễm. Tuy nhiên, kênh truyền dẫn tác động của các chính sách tài khóa đến mục tiêu bảo vệ môi trường chưa rõ ràng và còn nhiều điểm cần được làm rõ (Halkos & Paizanos, 2016; Lopez & cộng sự, 2011). Theo đó, để trình bày chi tiết các nội dung trên, cấu trúc chương hai bao gồm ba phần nội dung chính như sau: phần 1 trình bày về lý thuyết các nhân tố tác động đến mức 17 độ ÔNMT, trong đó, luận án chú trọng luận giải tác động của FDI.
Phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết phân tích vai trò của thể chế và chính sách công trong mối quan hệ giữa FDI và mức độ ÔNMT và phần 3 là khái lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến môi trường 2. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến môi trường Các nghiên cứu khám khá các nhân tố tác động đến ÔNMT thường dựa trên các nền tảng lý thuyết khác nhau, trong đó phổ biến là lý thuyết về đương cong Kuznet và mô hình STIRPAT. Giả thuyết về đường cong Kuznets môi trường (Environment Kuznets Curve - EKC) Lược khảo nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng kinh tế hay thu nhập là một trong những nhân tố tác động có ý nghĩa đến mức độ ÔNMT.
Trong đó, nhiều nghiên cứu trước ủng hộ giả thuyết về đường cong Kuznets (Environment Kuznets Curve - EKC). Vào những năm 1950, Simon Kuznets giới thiệu giả thuyết về đường cong Kuznets, tuy nhiên, mối quan hệ giữa tăng trưởng và ÔNMT chưa được luận giải một cách rõ ràng. Từ cơ sở này, các nghiên cứu của Grossman & Krueger (1991, 1995), ngân hàng Thế giới WorldBank (1992), Panayotou (1993) cùng các nghiên cứu khác đã phát triển giả thuyết này, luận giải mối quan hệ giữa hai mục tiêu phát triển này có dạng đường cong phi tuyến chữ U ngược (inverted U shape). Một cách khái quát, theo giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC), mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức độ ô nhiễm môi trường được luận giải theo quy luật đường cong phi tuyến dạng U ngược như sau: ÔNMT sẽ tăng cùng chiều với tăng trưởng kinh tế trong các giai đoạn đầu của phát triển.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế đạt đến mức ngưỡng chuyển đổi (turning point), mức độ ÔNMT bắt đầu giảm dần khi nền kinh tế càng phát triển.