Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng môi trường - Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng môi trường ở Việt Nam - Chương 3: Giải pháp nhằm gắn kết đầu tư trực tiếp nước ngoài với các mục tiêu về môi trường ở Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm và phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) đi cùng với quyền quản lý số tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Ở những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 1997), “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm).
Báo cáo Đầu tư Thế giới (World Investment Report, 1999) của Liên hợp quốc (Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển, UNCTAD, 1999) xác định, FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Tóm lại, dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác trong đó chủ đầu tư thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh 5 nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Để tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn thì nhà đầu tư phải có lượng vốn nhất định và tuân theo các hình thức đầu tư do pháp luật tại nước sở tại quy định.
Hay nói một cách rõ ràng hơn thì trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư sẽ sử dụng các tài sản, nguồn vốn, uy tín, kinh nghiệm và tính thương hiệu của mình trên thị trường để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại nước khác nhằm đạt được các mục tiêu về lợi nhuận hay về kinh tế - xã hội nhất định. Phân loại FDI Có nhiều cách phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài khác nhau, cụ thể: Theo quan điểm của nhà đầu tư, FDI được chia thành ba hình thức: FDI theo chiều ngang(Horizontal FDI), FDI theo chiều dọc (Vertical FDI) và FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI) (Caves, 1971). - FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI) được tiến hành với mục đích mở rộng quy mô sản xuất và hàng hóa cùng loại hoặc tương tự ở trong nước tại nước ngoài. Vì thế, có sự khác biệt về hàng hóa sản phẩm là yếu tố mấu chốt trong cấu trúc thị trường đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang.
Nói cách khác, FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm khai thác toàn bộ lợi thế độc quyền và độc quyền nhóm. Ví dụ công ty A của Nhật Bản đầu tư vào công ty B cũng của Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất ô tô. Điều này sẽ tạo ra một mối liên kết giữa hai công ty và cho phép họ chia sẻ công nghệ và kiến thức về sản xuất ô tô. Từ đó có thể tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty trong cùng ngành công nghiệp, nhưng cũng có thể mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp và quốc gia nơi các công ty đó hoạt động.
- Ngược lại với FDI theo chiều ngang là FDI theo chiều dọc (Vertical FDI) được tiến hành với mục đích khai thác đầu tư nước ngoài với việc tận dụng nguồn lực giá rẻ và giành quyền kiểm soát những nguyên liệu thô (Backward vertical FDI) hoặc tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng thông qua việc mua lại các kênh phân phối, phá vỡ rào cản gia nhập, thúc đẩy quá trình phân phối và tiêu thụ sản phẩm (Forward Vertical FDI). Ví dụ, trong một thời gian dài, thị trường ôtô Mỹ gặp khó khăn để bán sản phẩm của mình sang Nhật Bản vì hầu hết nhà buôn ôtô tại Nhật Bản chiếm thị phần lớn với thị trường ôtô nội địa, vì vậy họ không sẵn sàng quảng bá cho ôtô của nước khác vào thị trường trong nước. Để giải quyết vấn đề này, những nhà buôn ôtô Mỹ đã tham gia vào một chiến dịch nhằm thiết lập mạng lưới phân phối riêng tại Nhật Bản để bán được thành công sản phẩm của mình. 6 - Loại hình thứ ba của FDI là FDI hỗn hợp, loại hình này là sự kết hợp của cả FDI theo chiều ngang và chiều dọc, đầu tư vào một ngành hoàn toàn khác tại nước ngoài.
Nói cách khác nó không liên quan trực tiếp với công việc kinh doanh của nhà đầu tư. Hình thức này thể hiện được sự nổi bật của đa dạng hóa dẫn đến việc tiếp nhận hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Ví dụ một công ty bán lẻ của Việt Nam có thể đầu tư vào công ty công nghệ của Mỹ, điều này đã mang đến cho các doanh nghiệp những cơ hội mở rộng và thể hiện được sự quốc tế hóa và đa dạng hóa. Ở một góc độ khác, theo quan điểm của quốc gia nhận đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể phân thành ba loại loại: FDI thay thế nhập khẩu, FDI gia tăng xuất khẩu và FDI do Chính phủ khởi xướng: - FDI thay thế nhập khẩu là việc sản xuất các hàng hóa mà trước đây nước nhận đầu tư phải nhập khẩu, dẫn tới việc nhập khẩu của nước nhận đầu tư và xuất khẩu của nước đi đầu tư sẽ giảm xuống.
Loại hình FDI này thường phụ thuộc vào quy mô thị trường của quốc gia nhận đầu tư, nguồn nguyên liệu và nhân công sẵn có, chi phí vận tải, bảo hiểm liên quan đến hoạt động thương mại và rào cản thương mại. - FDI gia tăng xuất khẩu là hoạt động sản xuất nhằm mục đích giúp nước nhận đầu tư tìm kiếm nguồn đầu vào mới như nguyên liệu thô và các hàng hóa trung gian. Loại hình này gọi là gia tăng xuất khẩu vì quốc gia nhận đầu tư sẽ tăng cường xuất khẩu nguyên liệu thô và các sản phẩm trung gian sang quốc gia đi đầu tư và các quốc gia khác (nơi có các công ty con của tập đoàn đa quốc gia). Đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng xuất khẩu sẽ giúp thu hút ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Nó cũng tác động đến tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia nhận đầu tư, chi phí các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, nhân công, các ưu đãi trong sản xuất như thuế suất, các hạn chế liên quan đến xuất khẩu, thị trường lân cận hoặc các hiệp định thương mại tự do mà quốc gia nhận đầu tư đã ký kết. - FDI do Chính phủ khởi xướng nhằm mục đích phát triển các ngành nghề sản xuất yếu kém, các ngành kinh tế còn khó khăn. Ví dụ, chương trình "Đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng kết nối vùng duyên hải Nam Trung Bộ" được Chính phủ Việt Nam triển khai từ năm 2020. Chương trình này được dự kiến sẽ đầu tư khoảng 5,2 tỷ USD vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng kết nối vùng duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm tuyến đường sắt, cảng biển, đường bộ và sân bay.
Chương trình này có thể giúp tăng cường khả năng 7 vận chuyển hàng hóa và du lịch giữa các tỉnh thành trong khu vực Nam Trung Bộ, đồng thời tạo ra nhiều việc làm và đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực này. Chương trình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế đến đầu tư vào khu vực này, giúp nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Tương tự như vậy, Kojima (1973, 1975, 1985) đã phân loại FDI theo hoạt động thương mại. Theo cách phân loại của Kojima, FDI được chia thành FDI định hướng thương mại (loại hình này tạo nên lượng dư cầu cho nhập khẩu và dư cung cho xuất khẩu so với điều kiện thương mại ban đầu) và FDI định hướng phi thương mại (có tác động tiêu cực tới hoạt động thương mại).
FDI có thể phân chia thành loại mở rộng và loại phòng vệ (Chen & Ku, 2000). FDI mở rộng có mục đích nhằm khai thác những lợi thế đặc thù của doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư. Loại hình FDI này có đóng góp vào tăng trưởng doanh số của doanh nghiệp đầu tư tại quê nhà và tại nước ngoài. Trái lại, FDI phòng vệ tìm kiếm nguồn lao động rẻ tại quốc gia nhận đầu tư với mục tiêu giảm chi phí sản xuất.
Chen và Yang (1999) đề xuất có thể sử dụng mô hình logit đa thức để nhận diện hai loại FDI này trong trường hợp của Đài Loan.