Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu, đưa ra ý nghĩa và kết cấu bài nghiên cứu. Chương 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu, nêu được nền tảng lý thuyết về FDI, độ mở thương mại, phát thải khí nhà kính và các lý thuyết khác có liên quan; các nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố trước đó. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong Chương 3, nhóm nghiên cứu trình bày phương pháp tiếp cận, thu nhập và xử lý dữ liệu phục vụ quá trình nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ. Chương 4 trình bày tổng quan về thực trạng vấn đề nghiên cứu đồng thời đưa ra kết quả của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá kết quả xử lý. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
Trên cơ sở kết quả và đánh giá từ Chương 4, nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường phát triển kinh tế tại Việt Nam trong thời gian tới. Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra các đóng góp, hạn chế của đề tài nghiên cứu, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu cho những công trình nghiên cứu trong tương lai. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 2.
Cơ sở lý thuyết về biến đổi khí hậu 2. Khái niệm biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu – Climate Change: Sự thay đổi của khí hậu (Định nghĩa của Công ước khí hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ (Nguyễn Văn Thắng và các cộng sự, 2010).
Khí thải nhà kính a. Khái niệm khí thải nhà kính Khí thải nhà kính là các thành phần khí của khí quyển, gồm các khí trong tự nhiên và các khí sinh ra do hoạt động của con người, hấp thụ và phát xạ bức xạ ở các bước sóng cụ thể trong khoảng phổ của bức xạ hồng ngoại nhiệt phát ra từ bề mặt trái đất, khí quyển và bởi mây. Các đặc tính này gây ra hiệu ứng nhà kính, chỉ hiệu ứng giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển bởi các khí nhà kính hấp thụ bức xạ từ mặt đất phát ra và phát xạ trở lại mặt đất làm cho lớp khí quyển tầng thấp và bề mặt trái đất ấm lên (Tổng cục thống kê, 2016). Theo Luật Bảo vệ môi trường: Khí thải nhà kính (hay khí nhà kính) là loại khí trong khí quyển gây hiệu ứng nhà kính (theo khoản 29 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14).
Theo khoản 1 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường 2020, các khí thải nhà kính chính đáng lo ngại phải kể đến Cácbon Đioxit (CO2), mêtan (CH4) và Đi Nitơ oxit (N2O). Trong đó, CO2 tồn tại trong khí quyển 1.000 năm, mêtan tồn tại trong khoảng 10 năm còn đi nitơ oxit tồn tại trong khoảng 120 năm. Các khí nhà kính, nguồn gốc và đặc điểm Khí Cacbon Điôxít - Carbon dioxide (𝐂𝐎𝟐) Khí CO2 vừa có nguồn gốc tự nhiên vừa từ những hoạt động công nghiệp đồng thời là loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh nhất vì nó chiếm tỷ trọng rất lớn trong bầu khí quyển chỉ sau CFC. Ngoài ra, cho dù CFC chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng nó không đóng góp nhiều vào hiệu ứng nhà kính mà chủ yếu gây phá hủy tầng ozon.
6 Chính vì thế mà không có gì ngạc nhiên khi ngày nay người ta tập trung quy trách nhiệm chính cho loại khí thải này đối với hiện tượng ấm lên toàn cầu. Khí Mêtan – Methane (CH4) Mêtan – Methane (CH4): Một trong sáu khí nhà kính được kiểm soát bởi Nghị định thư Kyoto. Nó có thời gian tồn tại trong khí quyển tương đối ngắn: 10 ± 2 năm. Các nguồn mêtan chủ yếu là bãi rác thải, mỏ than, ruộng lúa, các hệ thống khí tự nhiên và súc vật nuôi.
Mêtan được sinh ra bởi sự phân hủy yếm khí của các chất hữu cơ trong đầm lầy, ruộng lúa và trong cả dạ dày gia súc, do đó, sự phát thải mêtan liên quan trực tiếp đến sự phát triển của nông nghiệp và chăn nuôi. Vì vậy, nồng độ mêtan tăng liên tục trong vài thế kỷ qua, đi đôi với sự tăng dân số và phát triển kinh tế thế giới. (Nguyễn Văn Thắng và các cộng sự, 2010) Khí Đi Nitơ Oxit - Nitrous oxide (𝑵𝟐𝟎) Đi Nitơ Oxit là một trong những khí vi lượng góp phần làm nóng lên nhà kính cũng như làm suy giảm tầng ôzon ở tầng bình lưu. Khí N2O được hình thành tự nhiên trong khí quyển, chủ yếu do quá trình phân hủy của các chất hữu cơ chứa nitơ trong đất, nước và các sinh vật.
Tuy nhiên, hoạt động của con người cũng là một nguồn phát thải lớn của khí N2O, bao gồm: Sản xuất phân bón, đốt cháy nhiên liệu hóa học, trồng trọt, chăn nuôi, sử dụng chất tẩy rửa và thuốc trừ sâu. Cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và độ mở thương mại 2. Cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1997), FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2008), “FDI là một loại đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan tâm lâu dài của một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế (đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) là cư dân trong một nền kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý của doanh nghiệp. Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyết của một doanh nghiệp trong một nền kinh tế bởi một nhà đầu tư trong nền kinh tế khác là bằng chứng của một mối quan hệ như vậy”. 7 Theo Luật Đầu tư năm 2005 (tại Điều 3), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.
Như vậy, có thể hiểu, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư, phản ánh sự di chuyển của các dòng vốn, công nghệ, … từ nước này sang nước khác để kinh doanh theo thời gian dài với mục tiêu lợi nhuận và người đi đầu tư là người có sở hữu vốn có quốc tịch là người nước ngoài và trực tiếp điều hành các hoạt động tại doanh nghiệp nhận đầu tư. Cơ sở lý thuyết về độ mở thương mại Định nghĩa của tính mở trong thương mại đã thay đổi đáng kể trong ba thập kỷ qua. Krueger (1978) mô tả nền kinh tế mở là nền kinh tế sử dụng các chính sách để định hướng xuất khẩu diễn ra thuận lợi, và ta có thể thấy điển hình nhất trong chế độ tỷ giá hối đoái. Ngược lại, Harrison (1996) nhấn mạnh tầm quan trọng của tính trung lập của các biện pháp khuyến khích giữa tiết kiệm từ thay thế nhập khẩu và thu nhập từ xuất khẩu.
Theo Harrison (1996), một thước đo tốt trong chính sách thương mại sẽ nắm bắt được sự khác biệt giữa chế độ trung lập, đóng cửa quốc gia và thúc đẩy xuất khẩu. Anderson và Neary (1992) tin rằng sự mở cửa thể hiện mức độ thương mại của một số nền kinh tế bị bóp méo bởi các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Tác giả cũng phát triển một “chỉ số hạn chế thương mại” để đo lường sự thiếu cởi mở của một quốc gia. Có thể thấy, dù quan niệm về độ mở thương mại thay đổi trong từng thời kỳ, nhưng nhìn chung, độ mở thương mại xuất phát từ nền kinh tế mở.
Nền kinh tế mở là một nền kinh tế có tỷ trọng thương mại tương đối cao trong hoạt động kinh tế tổng thể và có sự tương tác và liên kết đáng kể với phần còn lại của thế giới. Nói cách khác, một nền kinh tế mở phải có hoạt động thương mại mạnh mẽ và phải là nước đóng góp đáng kể cho thương mại thế giới (Squalli and Wilson, 2011). Từ đó, độ mở thương mại có thể được định nghĩa là mức độ mà một nền kinh tế duy trì định hướng hướng ngoại của mình trong thương mại. Cũng theo Squalli & Wilson (2011), độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cùng thời kỳ đó.
Công thức cụ thể được minh họa như sau: 𝑋𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢 + 𝑁ℎậ𝑝 𝑘ℎẩ𝑢 Độ 𝑚ở 𝑡ℎươ𝑛𝑔 𝑚ạ𝑖 = 𝐺𝐷𝑃 8 2. Thực trạng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2023 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu về các yếu tố kinh tế xã hội tác động đến khí thải nhà kính Tác giả Reema Gh Alajmi (2021) đã sử dụng phương pháp LMDI (Logarithmic mean Divisia index) để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát thải khí nhà kính từ năm 1990 đến năm 2016.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hai lĩnh vực tác động mạnh nhất đến phát thải khí nhà kính là lĩnh vực ngành điện và giao thông. Trong đó, tác động của việc thực hiện các hoạt động, sử dụng năng lượng và dân số trong ngành điện lớn hơn so với ngành giao thông. Ngoài ra, Ansuategi và Escapa (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa một số chỉ số về suy thoái môi trường và thu nhập.