CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS XANH VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS XANH 1.1 Cơ sở lý thuyết về Logistics xanh 1.1 Khái niệm về Logistics xanh Từ lâu, khái niệm Logistics xanh đã được định nghĩa là “Tập hợp các hoạt động xanh nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường của các DN Logistics” (Wu & Dunn, 1995). Theo sau đó đã dần có những nghiên cứu liên quan đến Logistics xanh, có thể kể đến như nghiên cứu Chang & Qin (2008) chỉ ra rằng: “Logistics xanh bao gồm việc kiểm soát, quản lý và triển khai hệ thống Logistics thông qua công nghệ Logistics tiên tiến và quản lý môi trường nhằm giảm phát thải chất ô nhiễm”. Sbihi & Eglese (2010) lại định nghĩa về Logistics xanh như sau: “Logistics xanh là một cách tiếp cận sự bền vững để sản xuất và phân phối hàng hóa bằng cách tính tới các yếu tố môi trường và xã hội”. Ở quan điểm của Lai & Wong (2012), Logistics xanh đề cập đến việc bảo tồn tài nguyên, giảm chất thải, tăng hiệu quả làm việc và đáp ứng yêu cầu xã hội về củng cố hệ sinh thái.
Những định nghĩa nêu trên phù hợp với định nghĩa mà Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) nêu ra về phát triển bền vững. Cho đến những năm gần đây, định nghĩa về Logistics xanh đã có nhiều luồng ý kiến hơn, cụ thể nghiên cứu của Osintev và cộng sự (2018) phát biểu rằng: “Logistics xanh nhằm giảm lượng khí thải CO2 và liên quan đến vận chuyển, xử lý và lưu trữ bền vững các vật liệu nguy hiểm, quản lý hàng tồn kho, kho bãi, đóng gói và vị trí của các cơ sở sản xuất”. Bài viết của C.Ma (2022) đề cập rằng: “Logistics xanh dựa trên việc giảm tiêu thụ năng lượng và tận dụng tối đa các công nghệ Logistics tiên tiến, tích hợp đầy đủ các lợi ích kinh tế và xã hội để thực hiện các hoạt động Logistics như vận chuyển, lưu trữ, đóng gói, dỡ hàng và xử lý”. Võ Văn Hiền và Nguyễn Phong Nguyên (2023) định nghĩa: “Logistics xanh là một phần không thể thiếu của chuỗi cung ứng xanh, đề cập đến các chiến lược và thực tiễn trong quản lý chuỗi cung ứng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực liên quan đến phân phối hàng hóa đến môi trường sinh thái”.
Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm về Logistics xanh vẫn còn chưa thống nhất và rõ ràng. Vì vậy để phù hợp với hướng nghiên cứu của bài viết, nhóm nghiên cứu định nghĩa Logistics xanh theo Bộ Công Thương (2022) như sau: “Logistics xanh là các hoạt động Logistics hướng tới các mục tiêu bền vững, thân thiện và bảo vệ môi trường, giảm tối đa tác động tiêu cực đến môi trường”. Một số hoạt động Logistics xanh phổ biến Perotti và cộng sự (2012) chia các hoạt động Logistics xanh thành 8 loại chính đó là: Cung ứng xanh, chiến lược phân phối và thực hiện vận tải, kho bãi và công trình xanh, Logistics ngược, hợp tác với KH, thu hồi đầu tư, thiết kế và sử dụng bao bì thân 16 thiện với môi trường, quản lý nội bộ. Các nhóm tương tự cũng đã được Colicchia và cộng sự (2013), Evangelista (2014) phát hiện và đề cập.
Nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu theo hướng phân chia nhóm hoạt động Logistics xanh từ Nguyễn Thị Bình (2022), với 5 nhóm chính (Hình 1. Một số hoạt động Logistics xanh phổ biến Nguồn: Nguyễn Thị Bình (2022). Sustainable Logistics System: Principles and Practices in Vietnam. a) Vận tải xanh Vận tải đóng vai trò trung tâm trong tính bền vững của một sản phẩm (Konieczny và cộng sự, 2013).
Từ quan điểm kinh tế, vận tải phải đáp ứng sáu mục tiêu chính của Logistics là “giao đúng sản phẩm, đúng thời gian và địa điểm, đúng số lượng, đúng chất lượng và đúng giá thành” (Seeck, 2010). Đồng thời, việc vận chuyển phải được thực hiện theo hướng thân thiện với hệ sinh thái để giảm tác động đến môi trường (Mehmann & Teuteberg, 2016). Hoạt động vận tải được xem là hoạt động Logistics có tác động ô nhiễm lớn đến môi trường. Trong đó, hệ thống mạng lưới giao thông và hoạt động của các phương tiện vận tải được xem là hai yếu tố chính có ảnh hưởng (Bộ Công Thương, 2022).
Các hoạt động giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông đường bộ gây ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ ô nhiễm (Vitória Albuquerque và cộng sự, 2023), biểu hiện qua lượng khí thải ra môi trường, tiếng ồn và tình trạng tắc nghẽn giao thông. Nghiên cứu của Umar (2020) đã chứng minh rằng trong giai đoạn từ 2000-2015 và 1985-1989, hoạt động giao thông vận tải đã gây ra lượng khí thải CO₂ nhiều hơn đáng kể, cho thấy rằng cần phải cải thiện hạ tầng giao thông và đổi mới để đạt được các mục tiêu phát triển môi trường bền vững. Chính vì vậy, Bjorklund (2011) đã nói rằng “hoạt động vận tải xanh được xem là một trong những yếu tố quyết định tới việc tiến hành tham gia vào ứng dụng Logistics xanh trong hoạt động DN”. b) Kho bãi xanh 17 Kho bãi đóng vai trò quan trọng bởi đó là nơi lưu trữ hàng hóa, hỗ trợ cân bằng cung cầu và đảm bảo hàng hóa luôn có sẵn khi cần, từ đó giảm tình trạng thiếu hụt và dư thừa (Sandra và cộng sự, 2024).
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng việc thực hiện kho bãi đang gây ra sự mất cân bằng đối với hệ sinh thái và biến đổi khí hậu. Hoạt động kho bãi hiện chiếm khoảng 11% trong tổng lượng phát thải khí nhà kính do lĩnh vực Logistics tạo ra trên toàn thế giới (Doherty & Hoyle, 2009). Kho bãi xanh được coi là một giải pháp để hướng tới sự phát triển và bền vững của chuỗi cung cung ứng (Rostamzadeh và cộng sự, 2015; Kumar và cộng sự, 2015). Theo nghiên cứu của Bartolini và cộng sự (2019), khái niệm kho bãi xanh được phát biểu là “một hoạt động quản lý tích hợp và triển khai các hoạt động thân thiện với môi trường cùng mục tiêu giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, chi phí năng lượng và phát thải khí nhà kính của nhà kho”.
Tương tự, Tan và cộng sự (2009), Ishizaka và cộng sự (2022) cũng đã đồng ý rằng: “Kho bãi xanh là việc tích hợp, cân bằng và quản lý các đầu vào và đầu ra kinh tế, môi trường và xã hội của hoạt động kho hàng”. Việc tham gia vào triển khai Logistics xanh có thể giúp giảm tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời tăng cường thực hành kho bãi xanh sẽ dẫn đến ít phát sinh chất thải hơn (Kumar và cộng sự, 2015). Bên cạnh đó, quản lý kho bãi xanh sao cho hợp lý cũng đóng một vai trò thiết yếu trong việc phát triển chuỗi cung ứng hiệu quả và ít các-bon (Agyabeng-Mensah và cộng sự, 2020; Wahab và cộng sự, 2018). Do đó, các DN cần nghiên cứu và xem xét đến việc thực hành kho bãi xanh càng sớm càng tốt để đạt được sự bền vững trong kinh doanh, hướng tới một nền kinh tế xanh.
c) Bao bì xanh Bao bì xanh hay còn có một tên khác là “bao bì xanh sinh thái”, “bao bì thân thiện với môi trường”, “bao bì bền vững” hay “bao bì có thể tái chế”. Những bao bì này sử dụng vật liệu sinh thái cho mục đích đóng gói, đây là những vật liệu hiệu quả và an toàn cho khỏe con người và môi trường (Pauer, Erik, và cộng sự, 2019). Các DN có thể tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể thông qua việc sử dụng vật liệu tái chế, đóng gói bao bì bằng các vật liệu có thể tái sử dụng, giảm số lượng bao bì cần xử lý hậu sản xuất, sắp xếp pallet một cách tối ưu và tận dụng tối đa dung tích xe tàu và không gian kho bãi. Một trong những điều gây ra lãng phí bao bì và gia tăng ô nhiễm môi trường đó là việc sử dụng bao bì không phù hợp trong quá trình vận chuyển.
Vì vậy, sự ra đời của bao bì xanh sẽ giúp giảm tác động tiêu cực đến môi trường và giảm thiểu mất mát sản phẩm trong quá trình vận chuyển. d) Hệ thống thông tin xanh Hệ thống thông tin xanh đã phát triển như một nhánh phụ của ngành Hệ thống thông tin, với mục tiêu chính là nghiên cứu cách hệ thống thông tin tham gia hỗ trợ vào quá trình phát triển và bền vững (Watson và cộng sự, 2010). Hệ thống thông tin xanh 18 được định nghĩa là hệ thống thông tin đã được điều chỉnh để giám sát đầu ra và các hành vi đối với môi trường của chuỗi cung ứng (Green và cộng sự, 2012). Hệ thống thông tin xanh được DN sử dụng để chia sẻ thông tin và truy xuất nguồn gốc dọc theo chuỗi cung ứng (Yang và cộng sự, 2018; Cousins và cộng sự, 2019).
Việc chia sẻ thông tin hiệu quả có vai trò thiết yếu trong việc chuyển đổi chuỗi cung ứng xanh vì nó có thể cung cấp cho các thành viên trong chuỗi thông tin về hoạt động và môi trường cần thiết để triển khai các hoạt động môi trường bền vững (Green và cộng sự, 2007). Bên cạnh đó, việc thiết lập hệ thống thông tin xanh có thể hỗ trợ hoạt động của DN phát triển bền vững bằng cách mở rộng năng lực xử lý thông tin và thúc đẩy luồng thông tin trên toàn bộ chuỗi cung ứng (Dedrick, 2010). Hệ thống thông tin xanh hiệu quả đóng vai trò hỗ trợ tuyệt vời cho chuỗi cung ứng bền vững bằng cách kết nối nhà cung cấp và KH và cung cấp nền tảng hiệu quả để nâng cao năng lực đổi mới xanh của doanh DN (Dao và cộng sự, 2011; Green và cộng sự, 2012). e) Logistics ngược Phát triển Logistics ngược bao gồm hai hoạt động chính đó là xử lý chất thải và thu hồi, tái sử dụng sản phẩm (Bộ Công Thương, 2022).
Theo Stock (1998), thuật ngữ Logistics ngược được dùng để chỉ “vai trò của Logistics trong việc trả lại sản phẩm, giảm nguồn, tái chế, thay thế nguyên liệu, tái sử dụng nguyên liệu, xử lý chất thải và tân trang, sửa chữa và tái sản xuất”. Theo Trivellas và cộng sự (2020), các hoạt động Logistics gây ảnh hưởng lẫn nhau và sự hy sinh là cần thiết để hướng tới mục tiêu bền vững. Hệ thống đóng gói có thể tái sử dụng là một ví dụ về sự ảnh hưởng hai chiều vì nó thúc đẩy hiệu quả sử dụng tài nguyên, dẫn đến tiết kiệm chi phí; ngược lại, nó gây thêm nhiều tuyến đường Logistics ngược và kết quả là tạo ra nhiều khí thải từ quá trình vận chuyển hơn (Dabees và cộng sự, 2023). Để đảm bảo có được một ngành Logistics bền vững với môi trường, các DN cần phải nhanh chóng thiết lập một hệ thống quản lý hiệu quả cho hoạt động Logistics xanh (Persdotter Isaksson, Hulthén và Forslund, 2019).