Chương 1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.1 Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế.1 Tăng trưởng kinh tế; Phát triển kinh tế; Chất lượng tăng trưởng kinh tế. Khái niệm tăng trưởng kinh tế được các tác giả đề cập với nhiều cách khác nhau, theo quan điểm của kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh với thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. “Tăng trưởng kinh tế dưới dạng khái quát, là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính cho một năm)” (Bộ GD&ĐT, 2002).
Phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi toàn diện hơn liên quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, thể chế. Một khái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đó là phát triển bền vững. Phát triển bền vững là tăng trưởng được duy trì mà không làm giảm trữ lượng của các nguồn lực hiệu quả (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2013, trang 19). Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Các chuyên gia của Ngân hàng thế giới cho rằng: Tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng lại là một cách cơ bản để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó lại không có tăng trưởng kinh tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về chất lượng tăng trưởng. Nhìn chung, khái niệm về chất lượng tăng trưởng được hiểu như sau: Chất lượng tăng trưởng bao gồm tăng trưởng kinh tế, phát triển và phát triển bền vững, liên quan đến ba thành tố: kinh tế, xã hội, và môi trường. Một 17 nền kinh tế có chất lượng tăng trưởng tốt khi có tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, chất lượng cuộc sống người dân nâng cao, và môi trường được bảo vệ bền vững (Thomas và cộng sự (2000), trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 58).2 Các chỉ tiêu đo tăng trưởng kinh tế.1 Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product - GDP).
Là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế. GDP được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta, tháng 5/2015 Chính phủ có quyết định phê duyệt đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Gọi tắt là GRDP) nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương.2 Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product - GNP). Tổng sản phẩm quốc dân - GNP đo lường tổng thu nhập do công dân một nước kiếm được bất kể dịch vụ yếu tố của họ được cung cấp ở nước nào.
GNP bằng GDP cộng với thu nhập ròng từ nước ngoài. Khi GNP thực tính theo đầu người tăng lên, chúng ta có thể kỳ vọng phúc lợi của người dân tăng lên.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nó cho thấy xu hướng của quy mô sản lượng tăng lên hay giảm đi và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau.
Các chỉ tiêu này được tính theo công thức: Trong đó: - g tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X 18 - X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục nền kinh tế phải phát huy có hiệu quả những yếu tố cơ bản sau: (1) Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại để phát triển theo chiều sâu. Cần phải có chính sách thu hút vốn trong nhân dân, vốn từ nước ngoài… để đầu tư cho sản xuất kinh doanh. (2) Tăng về số lượng và chất lượng lao động.
Để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế phải tăng về số lượng và đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. (3) Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia. Đây là yếu tố riêng của mỗi quốc gia và không phải nước nào cũng có trình độ khai thác, sử dụng đúng đắn và có hiệu quả những yếu tố này.
Do đó cần phải có chính sách khai thác cho phù hợp nhằm đảm bảo phát triển bền vững. (4) Yếu tố dân số có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Dân số đông làm cho tiêu dùng xã hội phục vụ đời sống nhân dân cao dẫn đến đầu tư cho sản xuất làm tăng trưởng kinh tế giảm xuống. Ngược lại, nếu mức tăng dân số quá thấp làm thiếu hụt nguồn nhân lực cũng ảnh hướng đến tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, tăng dân số một cách hợp lý là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. (5) Thể chế và tham nhũng. Thể chế được xem là nguyên nhân sâu xa, mang tính cơ bản quyết định sự khác nhau về mức độ tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa các quốc gia bên cạnh vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn vật chất và công nghệ (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 212). Theo nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế thể 19 chế có tác động đến vấn đề tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Thể chế của một quốc gia là yếu tố quyết định trong vấn đề định hướng, điều hành phát triển kinh tế của quốc gia đó. Ở các quốc gia đang phát triển, khung thể chế thiếu minh bạch và không hoàn thiện tạo ra nhiều rào cản mang tính độc quyền hơn là cạnh tranh, hạn chế cơ hội hơn là mở rộng chúng, đồng thời khiến cho có ít đầu tư vào giáo dục để tăng năng suất, v. Tham nhũng là một trong những yếu tố được xem là thất bại của thể chế, tham nhũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế bởi vì nó có khả năng bóp méo thị trường và phân bố nguồn lực (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 225). (6) Khoa học - công nghệ: Áp dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng tư liệu sản xuất tiên tiến, hiện đại, thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất.
Vai trò của khoa học - công nghệ ngày nay hết sức to lớn để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, có tác động nhất định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện mọi hoạt động của đời sống xã hội. (7) Đóng góp của TFP (Total Factor Productivity) vào tăng trưởng. TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế. TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tuỳ thuộc vào chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động và vốn.
Tăng TFP giúp cho tăng trưởng bền vững, tăng trưởng có chất lượng cao. (8) Quản trị nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế. Nhà nước có thể can thiệp với tác động khác nhau lên các yếu tố duy trì nền tảng của tăng trưởng kinh tế. Nhà nước thông qua chính sách kinh tế xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế.
Có tăng trưởng kinh tế mới khắc phục được tình trạng đói nghèo của quốc gia, khắc phục được tình trạng lạc hậu, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân, xóa bỏ dần các phong tục tập quán lạc hậu. 20 Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như nâng cao mức sống nhân dân, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện các mặt an sinh xã hội,… Tăng trưởng kinh tế cao tạo tiền đề vật chất cho việc củng cố an ninh, quốc phòng, củng cố chính trị, ổn định xã hội. Tăng trưởng kinh tế cũng có mặt trái của nó là làm phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và có thể kéo theo vấn đề tội phạm. Nếu quá chú trọng đến tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh thì dễ dẫn đến không kiểm soát được nguồn tài nguyên và môi trường, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường bị xâm hại gây tổn thất lâu dài về sau.
Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc - UNDP (1996) đã nêu năm loại tăng trưởng kinh tế xấu: (1) Tăng trưởng kinh tế không lương tâm. Là tăng trưởng kinh tế mà thành quả của nó chỉ đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo thì ít được hưởng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Đây là loại tăng trưởng có tác động làm gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập của dân cư. (2) Tăng trưởng kinh tế không việc làm.
Là tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng cơ hội có thêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp với những công việc có năng suất thấp, trong khu vực nông nghiệp và khu vực không chính thức. Loại tăng trưởng này có tác động làm tăng bất bình đẳng do người lao động không có việc làm và trở nên yếu thế trước các biến đổi xã hội. (3) Tăng trưởng kinh tế không có tiếng nói. Tức là tăng trưởng kinh tế không đi kèm với việc mở rộng nền dân chủ hay việc trao đổi thêm quyền lực cho dân, dập tắt những đòi hỏi được tham gia nhiều hơn của cộng đồng vào các quyết sách liên quan đến đời sống xã hội.
Loại tăng trưởng này có tác động làm gia tăng bất bình đẳng về vị trí xã hội. 21 (4) Tăng trưởng kinh tế không gốc rễ. Là tăng trưởng kinh tế khiến cho nền văn hóa, đời sống tinh thần của con người ngày càng khô héo. Tăng trưởng này có tác động làm gia tăng bất bình đẳng về mặt xã hội.
(5) Tăng trưởng kinh tế không có tương lai.