CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu: Luận văn này cung cấp một bằng chứng mới về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng kỹ thuật hồi quy ngưỡng (threshold model) cho bộ dữ liệu bảng của 79 quốc gia trên thế giới trong khung thời gian từ 1985 đên 2010. Kết quả cho thấy mức độ phát triển tài chính chỉ có lợi cho tăng trưởng kinh tế đến một mức ngưỡng nhất định và khi vượt qua mức ngưỡng đó phát triển tài chính sẽ có tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế. Những phát hiện mới này cho thấy không phải cứ tăng quy mô của hệ thống tài chính là tốt cho nền kinh tế mà chúng ta phải nâng cao chất lượng, cũng như kiểm soát tốt khu vực tài chính thì mới có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững nhất.
Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu: Tài chính được ví như “mạch máu” của nền kinh tế điều này đã được kiểm chứng trong thực tế từ nhiều thập niên trước. Nó giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế với chức năng chủ yếu là huy động và phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế. Hệ thống tài chính vừa là kênh tiết kiệm cho khu vực tư nhân, vừa là kênh đầu tư cho khu vực doanh nghiệp, và cũng là kênh dẫn truyền các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Các chức năng này của hệ thống tài chính được phổ biến ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.
Tuy nhiên, trong thời điểm toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay mối quan hệ này càng trở nên phức tạp hơn do tác động của các yếu tố khác nhau trong bản thân nội tại hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy việc xác định mối quan hệ giữa hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế cũng trở nên khó khăn hơn. Do đó, đề tài này tập trung xem xét mối quan hệ giữa phát triển hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế, đồng thời xác định ngưỡng phát triển tối ưu của hệ thống tài chính để có thể đề ra các biện pháp, chính sách phù hợp cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, luận văn hướng đến nghiên cứu đề tài: “ Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia trên thế giới”.
Mục tiêu nghiên cứu: Với mục đích nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, luận văn này hướng đến và mong muốn đạt được những mục tiêu sau: Xác định mối quan hệ phi tuyến hình chữ ““U-ngược”” giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Xác định ngưỡng phát triển tài chính “tối ưu” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các bước thực hiện để đạt được mục tiêu nghiên cứu như vừa đề cập là nội dung quan trọng và sẽ xuyên suốt, thống nhất trong toàn bộ luận văn. Câu hỏi nghiên cứu: - Có hay không mối tương quan phi tuyến hình chữ “U-ngược” giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế? - Liệu có tồn tại ngưỡng phát triển “tối ưu” của hệ thống tài chính? - Nếu có tồn tại mức ngưỡng “tối ưu” thì làm thế nào để các quốc gia đạt được mức ngưỡng đó trong giai đoạn hiện nay? 1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm 79 quốc gia phát triển và đang phát triển trên thế giới. Sử dụng dữ liệu bảng trung bình 5 năm (1985-1989, 1990-1994, 1995- 1999, 2000-2005, 2006-2010) từ năm 1985 đến năm 2010. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng cả 2 phương pháp định tính và định lượng để nghiên cứu. - Phương pháp định tính: Ta xem xét mối quan hệ dựa trên những thay đổi, quan sát từ thực tiễn, từ quá trình lịch sử hình thành của hệ thống tài chính và sự phát triển kinh tế thế giới.
Từ đó đưa ra các nhận xét khách quan về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. - Phương pháp định lượng: Sử dụng mô hình hồi quy từ việc chọn lựa các biến có liên quan đến đề tài và dùng mô hình kinh tế lượng để kiểm tra các giả thuyết đã đặt ra. 4 Định tính Định lượng Khung lý thuyết Khung lý thuyết Lịch sử hình thành Thống kê mô tả Quan sát, kinh nghiệm thực tiễn Phân tích tương quan Đánh giá thực trạng Xác định giá trị ngưỡng Kết luận nghiên cứu Kiểm định mối quan hệ chữ U- ngược giữa PTTC và TTKT Kiểm định các giá trị ngưỡng với các phương pháp POLS, FEM, REM Kết luận nghiên cứu Hình 1.1: Quy trình và các bước thực hiện nghiên cứu 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu: - Luận văn đưa ra một mối quan hệ mới giữa phát triển khu vực tài chính và tăng trưởng kinh tế, đó là mối quan hệ chữ ““U-ngược””.
Kết quả nghiên cứu rất hữu ích hướng đến các đối tượng như: các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, các ngân hàng và các nhà đầu tư. - Luận văn cũng chỉ ra ngưỡng phát triển “tối ưu” của khu vực tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó làm cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng một cơ chế quản lý, điều hành hệ thống tài chính vững mạnh và đạt hiệu quả. 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Để có thể làm cơ sở cho những phần nghiên cứu tiếp theo cũng như đưa ra một kết luận đáng tin cậy cho bài nghiên cứu, tác giả trình bày khung lý thuyết chung về phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Dựa trên khung lý thuyết này, kết hợp với các nghiên cứu trước đây để từ đó làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu.1 Phát triển tài chính: 2.1 Khái niệm phát triển tài chính: Theo Bách khoa toàn thư mở “Wikipedia”: Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Theo King và Levine (2004) khu vực tài chính có 5 chức năng chính: - Tạo ra và xử lý sự bất cân xứng về thông tin, phân bổ các nguồn vốn dựa trên giá trị thực. - Kiểm soát nguồn vốn đầu tư sau khi đã phân bổ cho các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế. - Giảm chi phí, đa dạng và quản trị rủi ro trong các giao dịch.
- Huy động và gộp khoản tiết kiệm - Tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa, dịch vụ, công cụ tài chính. Phát triển tài chính là sự cải thiện chất lượng của 5 chức năng trên. Tóm lại, phát triển tài chính là sự cải thiện cả về chất lẫn về lượng trong việc tạo ra, thu hút, chu chuyển và kiểm soát các nguồn lực tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.2 Thước đo phát triển tài chính: Có nhiều thước đo cho sự phát triển tài chính được các nhà kinh tế phát hiện và chứng minh như: 6 Nghiên cứu của King và Levine (2004): • Tỷ lệ tín dụng cung cấp cho khu vực tư nhân trên tổng GDP (%), thể hiện mức độ phát triển của khu vực tư trong nền kinh tế. • Tỷ lệ cung tiền trên tổng GDP (%), thể hiện độ sâu tài chính.
• Tổng tín dụng nội địa trên GDP (%), chỉ số này thể hiện quy mô tài chính của quốc gia. Nghiên cứu của Pagano (1993): Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia trên GDP, cho thấy khả năng chuyển tiết kiệm sang đầu tư từ đó tác động tích cực đến nền kinh tế.2 Tăng trưởng kinh tế: 2. Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian.
Thước đo tăng trưởng kinh tế: Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn. Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%) Trong đó: Y là quy mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) 7 thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
Các mô hình kinh tế: Để nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng mô hình hay học thuyết. Các mô hình là khuôn mẫu để tổ chức phương pháp tư duy về một vấn đề. Các mô hình được đơn giảm hoá bằng cách bỏ qua một vài chi tiết của thế giới hiện thực, qua đó tập trung vào các điểm chính yếu, từ đó giúp chúng ta triêể khai phân tích xem nền kinh tế hoạt động thế nào. Trong khi lập mô hình, chúng ta có quyền bỏ qua những chi tiết không quan trọng của hiện thực, nhưng nếu chúng ta lập quá đơn giản, bỏ qua những chi tiết quan trọng thì mô hình sẽ không có tác dụng, và sẽ không phù hợp với thế giới hiện thực.
Giữa mô hình kinh tế và số liệu thực tế có mối quan hệ chặt chẽ, các số liệu tương tác với mô hình theo hai hướng: số liệu giúp lượng hoá các quan hệ mà mô hình lý thuyết quan tâm; số liệu giúp ta kiểm nghiệm mô hình. Như vậy, để tiến hành xây dựng mô hình kinh tế, người ta phải bắt đầu bằng việc thu thập các số liệu để tìm mối quan hệ logic giữa các yếu tố của nền kinh tế, sau đó sử dụng các kết quả đã phân tích để xây dựng mô hình quan hệ kinh tế.