chương 1, tác giá tập trung giới thiệu đề tài nghiên cứu. Tác giả nêu lên lý do chọn đề tải, giới thiệu sơ lược về mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu; đổi tượng và phạm vị nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; đóng góp của đê tài; cấu trúc của đê tài. - Chương 2: Cơ sờ lý thuyết, tống quan các nghiên cứu trước và giá thuyết kỳ vọng: Chương 2 tác giả làm rõ các cơ sở lý thuyết liên quan, tông hợp các nghiên cứu trước và đưa ra giá thuyết kỳ vọng. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trong chương này tác già trình bày về cách chọn dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cùa đề tài.
Tập trung làm rõ mô hình nghiên cửu, mô tà các biên và trình tự thực hiện nghiên cứu. - Chương 4: Ket quá nghiên cứu: Trong chương 4, tác giả thực hiện thống kê mô tả, chạy các kiẻm định đê lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp, và thực hiện các ước lượng đế khắc phục các vấn đề của mô hình. Từ kểl quà của các phương pháp ước lượng, tác giá sẽ kết luận sự ảnh hường cúa các biến độc lập lên biến phụ thuộc. - Chương 5: Kêt luận, khuyên nghị và hướng mờ rộng của đề tài: Trong chương 5, tác giả đưa ra các kết luận và khuyến nghị cũa đề tài, đưa ra các hạn che và hướng mờ rộng tiếp theo cho đề tài.
13 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT, TÔNG QUAN CÁC NGHIÊN cưu TRƯỚC VÀ GIẢ THUYẾT KỲ VỌNG 2. Đường cong Kuznets (EKC) Vào năm 1954, Simon Kuznets ra mắt lý thuyết Đường cong Kuznels (EKC) nham mô tá mối quan hệ giừa sự phát triên kinh tế và bất bình đăng trong thu nhập. Từ năm 1991 trờ đi, lý thuyết Đường cong Kuznets đà được mờ rộng đế áp dụng vào việc phán ánh mối quan hệ giữa thu nhập binh quân đầu người và chất lượng môi trường theo thời gian. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu đã chửng minh rằng mối quan hệ giữa sự phát triẻn kinh tê và chât lượng môi trường tuân theo mô hỉnh Đường cong Kuznets hình chừ u ngược (Managi & Jena, 2008; Coondoo & Dinda, 2008).
Theo mô hình này, “Suy thoái môi trường gia tăng trong giai đoạn ban đầu cúa sự phát triển kinh tế, sau đó, mức độ suy thoái môi trường bắt đầu giám khi thu nhập binh quân đầu người vượt qua một ngường cụ thê”. Grossman & Krueger (1995) đà chí ra răng “Tăng trưởng kinh tê có thẻ gây ra suy thoái môi trường trong giai đoạn ban đầu của quá trình phát triển, nhưng sau khi vượt qua một ngưỡng phát triên, hoạt động kinh tế có thế thúc đầy cải thiện môi trường do tăng cường sự quan tâm của dân chúng đổi với chất lượng môi trường". Các nghiên cứu của Managi & Jena (2008), Coondoo & Dinda (2008), Shahbaz & cộng sự (2012, 2013a, b), Tiwari & cộng sự (2013) chứng minh được sự tồn tại của đường cong EKC. Tuy nhiên, không cỏ sự đông thuận trong các nghiên cửu này vê dấu, độ lớn và ỷ nghĩa của các hệ số.
Hơn nữa, còn tồn tại vấn đề về tính không đồng nhất của từng quốc gia, đặc biệt trong trường hợp nghiên cứu dừ liệu bảng. Do đó, một sổ nghiên cứu trước đây đã tập trung vào các kỳ thuật chuồi thời gian đế kiếm tra đường cong EKC ờ phạm vi từng quôc gia. Đa sô kêt quả cho thây tăng trường kinh tê sẽ làm tăng mức ô nhiêm môi trường ớ các quốc gia thu nhập thấp hoặc đang phát triốn, tuy nhiên ờ các quốc gia thu nhập cao và đà phát triên môi quan hệ này sẽ ngược lại; hàm ỷ này ủng hộ giả thuyêt đường cong EKC. Có nhiều chi số khác nhau được sú' dụng đế biểu thị cho chất lượng môi trường như CO2, SO2, NO được sử dụng cho chất lượng không khí, trong khi thủy ngân, chi, cadmium, niken được sử dụng cho chat lượng nước.
Trong đó lượng khí thải 14 C02 vần là chỉ số phô biến nhất đẻ đo lường chất lượng môi trường do tính thông dụng và sằn có. Phát trier} tài chính Các nghiên cứu về giá thuyết đường cong EKC chủ yếu sứ dụng mức tiêu thụ năng lượng và độ mờ thương mại làm biên kiêm soát đê kiêm tra mức độ tác động của tăng trương kinh tế lên lượng khí thái CO2 hoặc chất lượng môi trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu sừ dụng Phát triên tài chính (Financial development) như một yếu tố quan trọng quyết định đến lượng khí thái CO2 khá hiếm. Tác giá sử dụng biển Phát triển tài chính trong đề tài nghiên cứu này do các nghi ngờ về các khu vực cỏ nền tài chính phát tricn có thố kích thích tăng trương kinh tế và do đó ánh hướng đến chất lượng môi trường và lượng khí thài CO2 (Frankel & Romer, 1999).
Ngoài ra, Phát triên tài chính còn giúp tăng khá năng huy động các nguồn tài chính cho các dự án liên quan đen môi trường với chi phí tài chính thấp (Tamazian & cộng sự, 2009). Diễn đàn Kinh tê Thẻ giới đà định nghĩa: “Phát triên tài chính như là các yêu tỏ, chính sách và thể chế dần đến thị trường và trung gian tài chính trớ nên hiệu quá, cũng như khả năng tiếp cận sâu và rộng đối với vốn và các dịch vụ tài chỉnh*'. Theo World Bank: “Phát triến tài chính giúp giám thiếu các “chi phí" phát sinh trong hệ thống tài chính". Ọuá trinh giảm chi phí vê thu thập thông tin, thực thi hợp đông và thực hiện giao dịch đà dần đến sự xuất hiện cùa các hợp đồng lài chính, thị trường lài chính và các tô chức trung gian; từ đó khu vực tài chính cung cấp các chức năng tốt hơn cho nền kinh tế.
Nhiêu bằng chửng đà làm sáng tỏ về vai trò quan trọng cua phát triên lình vực tài chính đổi với sự phát triến kinh tế. Phát triển tài chính đóng góp mạnh me vào thúc đấy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ, bằng cách tăng tý lệ tiết kiệm, thu hút đầu tư, tạo điều kiện và khuyến khích dòng vốn nước ngoài, cũng như tôi ưu hóa phân bô vôn. Đáng chú ý là đôi với các quôc gia với hệ thông tài chính phát triôn và hiệu quả thường có xu hướng đạt được tăng trướng kinh tế nhanh hơn trong thời gian dải. Ngoài tác động tích cực này, Phát triên tài chính còn có khả năng giám thiêu đói nghèo và bất bình đăng xã hội.
Nó mờ rộng khá năng tiếp cận tài chính cho các tầng lớp người nghèo và những người dễ bị tôn thương, đồng thời thúc đây đầu tư và gia tăng lợi nhuận từ việc đầu lư, tạo điều kiện cho thu nhập của người dân tăng lên. Tuy nhiên 15 thị trường tài chính phát triên cũng có thê gảy ra các vấn đề về môi trường. “Dòng vốn từ thị trường tài chính đô vào khu vực tư nhân đà tiếp thêm sức sống cho hệ thống kinh tế, kích thích mua và sừ dụng hàng tiêu dùng năng lượng cao như ô tô, máy điều hòa không khí, và những ngôi nhà. Điồu này dần đến sự gia tăng trong việc sử dụng năng lượng, và sự tiêu thụ năng lượng này cỏ tác động đáng ke đôi với các vân đê liên quan đến môi trường, có khá năng dẫn đến tăng khí thái CO2” (Cohcn & cộng sự, 2018).1 Định nghĩa Tài chính xanh (Green finance) là một khái niệm được ra đời gắn với sự phát triển của xu hướng kinh tế xanh trong thập kỷ gần đây.
Truớc đây, lĩnh vực tài chính trên thế giới dường như đà bo qua các ãnh hường của thị trường tài chính tới hệ sinh thái, làm gia tăng các vấn đề về ô nhiêm môi trường, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và biến đôi khí hậu. “Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, ngành tài chính đã dần chú ý đến đầu tư xanh và Tài chính xanh, từ đó thúc đây tăng trưởng bên vừng” (Falcone & cộng sự, 2018). Lindenberg (2014) định nghĩa: “Tài chính xanh là nguồn tài trợ cho các khoản đau lư xanh cùa khu vực công và tư nhân”. Wang & Zhi (2016) định nghía: “Tài chính xanh là tài chính tích hợp bảo vệ môi trường với lợi nhuận kinh te”.
Ozili (2021a) định nghĩa: “Tài chính xanh là việc tài trợ cho các dự án mang lại lợi ích kinh tể đông thời thúc đây môi trường bền vững”. Lindenberg (2014) cho thấy: “Tài chính xanh bao gồm lất cá các khoán đâu tư vào hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng như đầu tư vào các hoạt động giảm thiểu thiệt hại cho môi trường và khí hậu”. Ngoài ra, trong chính sách công, “Tài chính xanh liên quan đên việc tài trợ cho các chính sách công khuyên khích thực hiện các dự án bâo vệ môi trường hoặc các dự án và sáng kiến giám thiêu thiệt hại về môi trường” (Lindenberg, 2014). Bahl (2012) định nghĩa: “Tài chính xanh là nguôn tài trợ cho các hoạt động thân thiện với môi trường, công nghệ xanh, năng lượng xanh và các dự án giảm ô nhiêm”.
Tài chính xanh dân chứng minh được tầm quan trọng trong việc tăng trường kinh tê, cùng như nâng cao chất lượng môi trường trong những năm gần đây. Wang (2020) cho thấy: “Tài chính xanh thúc đây tăng trường kinh tế toàn diện”. “Đầu tư vào các dự án xanh có thể làm giám mức phát thải carbon ngắn hạn và dài hạn” (Li & cộng sự, 2021). 16 Theo He & cộng sự (2020): “Tài chính xanh thúc đầy việc xây dựng các thành phố thông minh trong dài hạn”.
“Tài chính xanh mang lại lợi ích đa dạng hóa cho các nhà đầu tư trên thị trường” (Reboredo, 2018). “Việc tăng cường tài trợ xanh có thê làm giám nguồn tài trợ cho các hoạt động sứ dụng nhiên liệu hóa thạch gây rủi ro cho môi trường và khí hậu” (Sachs & cộng sự, 2019a; Ozili, 2022a). Các sản phẩm và công cụ Tài chính xanh Theo Li & cộng sự (2018): “Một sản phâm, dịch vụ hoặc công cụ tài chính “truyên thống” có thề trớ nên “xanh” nếu sàn phẩm, dịch vụ hoặc công cụ đó được sử dụng đê tài trợ cho các khoản đâu tư, dự án hoặc hoạt động thân thiện với môi trường”. Chăng hạn như các khoán vay hoặc các khoán đầu tư vốn cổ phần cho các dự án năng lượng tái tạo, khoán vay lài suất thấp đê trồng cây, khoản vay cho dự án ô tô điện,.
Các công cụ Tài chính xanh là công cụ tài chính được sứ dụng đế tài trợ cho các dự án xanh.