Chương 1 nêu bối cảnh chính sách, giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 đánh giá các nhân tố quyết định NLCT theo khung lý thuyết, từ đó nhận diện các yếu tố cốt lõi thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của Tỉnh và xác định các cụm ngành tiềm năng. Bảy trong chín nhân tố trong khung phân tích sẽ được tập trung phân tích là: (1) tài nguyên thiên nhiên; (2) vị trí địa lý; (3) quy mô địa phương; (4) hạ tầng xã hội, văn hóa, giáo dục; (5) CSHT giao thông vận tải, điện, nước, viễn thông, khu công nghiệp (KCN), cảng biển; (6) chất lượng của các chính sách tài khóa, đầu tư, cơ cấu kinh tế; (7) môi trường kinh doanh. Chương 3 tập trung phân tích cụm ngành tiềm năng được xác định từ Chương 2 để tìm ra thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển cụm ngành, làm cơ sở cho các khuyến nghị ở Chương 4.
Chương 4 đề xuất một số khuyến nghị chính sách để nâng cao NLCT của tỉnh gắn với phát triển cụm ngành tiềm năng dựa trên kết quả phân tích từ Chương 2 và Chương 3. Chương này cũng đưa ra kế hoạch cụ thể và những khó khăn khi triển khai chính sách cũng như nêu ra một số hạn chế của đề tài. 6 Xem Phụ lục 1. CÁC NHÂN TỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 2.1 Các yếu tố về lợi thế tự nhiên 2.1 Vị trí địa lý BRVT tiếp giáp với biển Đông, nằm trên tuyến hàng hải quốc tế nối liền bắc nam và đông tây của thế giới7, nơi chiếm hơn 85% vận chuyển thương mại quốc tế8.
Vũng Tàu là điểm cuối của đường xuyên Á AH1 (Quốc lộ 51) nối liền Việt Nam với các nước ASEAN qua cửa khẩu Mộc Bài. BRVT nằm trong hành lang giao thông phía nam của GMS (Vũng Tàu – Hồ Chí Minh – Phnômpênh – Siem Riep – Bangkok). Như vậy, BRVT không chỉ là cửa ngõ hướng ra biển Đông của Vùng KTTĐPN mà còn của cả Campuchia. Đây là vị trí địa lý lý tưởng để xây dựng cụm ngành logistics ở tỉnh BRVT.
BRVT nằm trong vùng KTTĐPN, gồm sáu tỉnh Đông Nam Bộ (ĐNB) và hai tỉnh Tây Nam Bộ. Vùng KTTĐPN được xem là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, chiếm hơn 52% GDP, trên 60% kim ngạch xuất khẩu cả nước, độ mở kinh tế của Vùng có xu hướng tăng cao. Tỷ trọng xuất khẩu trên GDP của Vùng tăng từ 33% năm 2005 lên đến 39% năm 20109 chứng tỏ nhu cầu trao đổi hàng hóa và nguyên vật liệu giữa Vùng KTTĐPN với thị trường thế giới ngày một tăng. Đây sẽ là nguồn hàng dồi dào cho hệ thống cảng biển và cụm ngành logistics ở BRVT.2 Khí hậu BRVT nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình cao (27C) và ổn định, số giờ nắng cao, ít xảy ra hạn hán hay lũ lụt nên thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, du lịch, giao thông vận tải.
Tuy nhiên, do là tỉnh ven biển nên về lâu dài BRVT sẽ chịu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với ngành du lịch, các công trình xây dựng, cảng, đường giao thông và cư dân sinh sống ven bờ của Tỉnh10. 7 Xem Phụ lục 2 8 UBND tỉnh BRVT (2011a) 9 Viện Kinh tế Việt Nam (2014) 10 Chi tiết xem Phụ lục 4 8 2.3 Quy mô địa phương BRVT là tỉnh có quy mô nhỏ, chỉ chiếm 0,6% diện tích và 1,16% dân số cả nước; chiếm 6,5% diện tích và 5,72% dân số vùng KTTĐPN (diện tích xấp xỉ TP.HCM nhưng dân số chỉ bằng 1/7). Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính, gồm hai thành phố thuộc tỉnh và sáu huyện, trong đó có một huyện đảo. Mật độ dân số năm 2012 là 522 người/km2, thấp hơn mật độ dân số của Vùng nhưng cao gấp 2 lần mật độ dân số trung bình cả nước (268 người/km2)11.
Do quy mô địa phương nhỏ nên BRVT không có lợi thế về sức cầu thị trường và lao động. Về quy mô GDP, BRVT xếp thứ 3 cả nước (sau TP.HCM và Hà Nội) và thứ hai trong vùng KTTĐPN. Đóng góp của BRVT vào GDP của Vùng có xu hướng giảm dần (năm 2000 chiếm 21,29%, năm 2005 là 20,0%, đến năm 2011 còn 13,13%)12. Nếu không có sự bức phá về tăng trưởng, vai trò của BRVT trong Vùng sẽ ngày càng kém quan trọng.4 Phân bổ đất Theo quy hoạch sử dụng đất của tỉnh đến năm 2020, diện tích đất dành cho các KCN, cảng và dịch vụ sau cảng khoảng 18.500 ha, tập trung ở khu vực phía Tây tỉnh (trong đó đất dành cho phát triển dịch vụ logistics khoảng 2.000 ha); đất dành cho phát triển du lịch từ 8.000 ha, tập trung ở các khu vực ven biển phía Đông tỉnh (thành phố Vũng Tàu, Long Điền, Đất Đỏ và Xuyên Mộc).
Hiện tại diện tích đất đã đưa vào sử dụng ở Tỉnh chiếm 99,09% diện tích tự nhiên, do đó khả năng khai thác từ đất chưa sử dụng bổ sung cho các mục đích sử dụng hầu như không còn. Đất nông nghiệp khoảng 146.164 ha, chiếm 73,47% tổng diện tích (chủ yếu là trồng cây lâu năm chiếm 37,16% tổng diện tích toàn tỉnh, trồng cây hàng năm chiếm 15,61%). Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chiếm 6,28% tổng diện tích, tương đương 12. Như vậy, trong tương lai Tỉnh cần chuyển đổi một diện tích rất lớn đất nông nghiệp (khoảng 20.000 ha) sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ cho phát triển kinh tế.
11 Chi tiết xem Phụ lục 6 12 Chi tiết xem Phụ lục 8 9 2.5 Tài nguyên biển-đảo BRVT có bờ biển dài nhất Vùng KTTĐPN (305,4 km), dọc bờ biển có nhiều địa điểm kín gió và mực nước sâu xây dựng được cảng nước sâu tiếp nhận tàu mẹ cỡ lớn trên thế giới (post panamax). Đây là tiền đề quan trọng để hình thành cụm ngành logistics ở BRVT. Với bờ biển dài, là một trong hai tỉnh ở Nam bộ có bãi cát vàng có thể làm bãi tắm quanh năm, thích hợp cho du lịch, nghỉ dưỡng, tắm biển, BRVT có tiềm năng để hình thành cụm ngành du lịch. Huyện đảo Côn Đảo cách Vũng Tàu 97 hải lý (khoảng 180 km), cách cửa sông Hậu-Sóc Trăng 45 hải lý, có rừng nguyên sinh chiếm 78,22% diện tích.
Rừng và biển được bảo tồn đa dạng sinh học13, có nhiều loài sinh vật quý hiếm như vích, rùa biển, bò biển, có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, không khí trong lành. Côn Đảo là nhân tố tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế. Ngoài ra, Côn Đảo còn được biết đến như một địa chỉ du lịch tâm linh và du lịch về nguồn với nghĩa địa Hàng Dương, Khu mộ Võ Thị Sáu, nhà tù Côn Đảo.6 Tài nguyên nước và Hệ thống sông ngòi BRVT có khoảng 24 con sông và rạch với chiều dài 231 km, trong đó sông Thị Vải dài 25 km, rộng 600-800 m, sâu 10-20 m nên có vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy, đặc biệt là xây dựng các cảng nước sâu đón được tàu tải trọng lớn (50-100 ngàn tấn). BRVT không có tài nguyên nước phong phú.
Nguồn nước ngọt chủ yếu của Tỉnh chỉ do sông Dinh và sông Ray cung cấp. Cùng với nguồn nước ngầm, trữ lượng nước cho phép khai thác tối đa 500. Thành phố Vũng Tàu đông dân cư, là trung tâm du lịch và dịch vụ của tỉnh nhưng không có nguồn nước mặt và nước ngầm nào đáng kể. Do đó vấn đề cấp nước cho Tỉnh, đặc biệt là Thành Phố Vũng Tàu để phục vụ du lịch cần phải được lưu tâm.
BRVT còn có suối khoáng Bình Châu thích hợp cho loại hình du lịch nghỉ dưỡng. 13 Chi tiết xem Phụ lục 5 10 2.7 Tài nguyên rừng BRVT có diện tích rừng không lớn, trong Vùng KTTĐPN chỉ hơn Bình Dương và Tiền Giang. Tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 201214 là 33.312,15 ha, chiếm 22,79% diện tích toàn Tỉnh, trong đó rừng sản xuất 6.032,51 ha, rừng phòng hộ 10.953,96 ha và rừng đặc dụng 16. Tài nguyên rừng ở Tỉnh có tầm quan trọng lớn trong phát triển du lịch, tạo cảnh quan, môi trường và phòng hộ.
Tỉnh có hai khu rừng nguyên sinh là Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu diện tích 11,4 ngàn ha và khu Vườn Quốc gia Côn Đảo diện tích gần 6 ngàn ha có thể khai thác để phát triển du lịch.2 Năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương 2.1 Cơ sở hạ tầng xã hội 2.1 Đào tạo Với đặc thù là tỉnh công nghiệp, BRVT cần lượng lớn lao động công nhân kỹ thuật, nhưng hình thức giáo dục hướng nghiệp ở Tỉnh phát triển rất chậm. Tỷ lệ học sinh trung cấp chuyên nghiệp quá thấp, đến năm 2012 chỉ đạt 3,74 trên 1. Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên đại học và cao đẳng trên 1000 dân tuy cũng thấp15 nhưng số lượng sinh viên đại học và cao đẳng đã gia tăng nhanh chóng, nhờ vào việc thành lập trường Đại học BRVT vào năm 2006 (là trường đại học đầu tiên ở BRVT). Trong năm 2014, Trường Đại học Dầu khí Việt Nam chính thức hoạt động sẽ thêm một địa chỉ đào tạo nhân lực cho tỉnh BRVT16.2 Dân số và lao động BRVT có dân số 1.565 người17, là tỉnh ít dân thứ nhì ở Vùng KTTĐPN (sau Bình Phước), trong đó 50,15% dân số sống ở nông thôn.
Dân số phân bố không đồng đều, mật độ dân số cao ở khu vực phía Tây Nam và giảm dần về phía Đông Bắc. Điều này phản ánh tình hình phát triển công nghiệp, dịch vụ dầu khí, dịch vụ cảng và du lịch đã tác động mạnh mẽ đến vấn đề phát triển và phân bố dân cư trên địa bàn. 14 NGTK tỉnh BRVT (2012) 15 Như trên 16 Hiện tại Tỉnh có 01 trường đại học, 06 trường cao đẳng (4 cao đẳng nghề, 2 cao đẳng chuyên nghiệp), 06 trường trung cấp (04 trường trung cấp nghề, 02 trường trung cấp chuyên nghiệp) và 25 trung tâm dạy nghề. 17 NGTK tỉnh BRVT (2012) 11 Lực lượng lao động trong độ tuổi của Tỉnh là 459.922 người, chiếm 44,16% dân số, tập trung ở khu vực nông thôn (52,32%)18, tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2002-2011 là 2,01%.
So với TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, BRVT không thực sự hấp dẫn lao động nhập cư. Tỷ suất di cư thuần năm 2012 của BRVT là 2,8 người/1000 dân19, trong khi chỉ số này của TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương lần lượt là 7,6; 12,5; 48,9. Điều này cho thấy BRVT gặp khó khăn trong thu hút lao động, đặc biệt là lao động trẻ và có kỹ năng.