Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từng sở hữu vị thế kinh tế đặc biệt vượt trội tại Việt Nam nhờ nắm giữ 93,3% trữ lượng dầu mỏ và 16,2% trữ lượng khí thiên nhiên của cả nước. Trong giai đoạn 1991–2005, việc khai thác tài nguyên dầu khí đã tạo ra tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ấn tượng đạt 13,55%/năm, đưa thu nhập bình quân đầu người năm 2005 lên mức 7.050 USD, gấp 11 lần mức trung bình toàn quốc là 638 USD. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không tái sinh đã bộc lộ rủi ro lớn khi sản lượng khai thác dầu thô sụt giảm mạnh từ 14,99 triệu tấn năm 2005 xuống 8,45 triệu tấn năm 2011, kéo theo tỷ trọng đóng góp của dầu khí trong GDP tỉnh giảm từ 75,58% năm 1992 xuống 23,23% năm 2011.

Hệ quả trực tiếp là giai đoạn 2006–2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ đạt 1,65%/năm, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình 10,13% của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và 7,01% của cả nước. Tỷ trọng đóng góp kinh tế của tỉnh trong vùng giảm từ mức 20,0% năm 2005 xuống 13,13% năm 2011. Đứng trước thách thức cạn kiệt tài nguyên, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhận diện các nhân tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh địa phương, xác định cụm ngành tiềm năng có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mới, và đề xuất các chính sách công có tính thực thi cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong mối tương quan với 7 tỉnh, thành phố thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2002–2011, cập nhật dữ liệu đến năm 2013. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi cung cấp luận cứ khoa học để tái cấu trúc nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển bền vững từ kinh tế biển và dịch vụ vận tải logistics.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, được hiệu chỉnh và phát triển từ lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael Porter công bố trong các năm 1990, 1998 và 2008. Khung phân tích này chia các động lực cạnh tranh thành ba nhóm nhân tố chính: nhóm lợi thế sẵn có của địa phương bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và quy mô địa phương; nhóm năng lực cạnh tranh cấp địa phương gồm cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và các chính sách tài khóa, đầu tư; nhóm năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp tập trung vào môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành và chiến lược vận hành của tổ chức.

Bên cạnh đó, mô hình kim cương của Michael Porter được sử dụng làm công cụ chủ đạo để giải mã sức cạnh tranh của cụm ngành tiềm năng thông qua bốn góc tương tác hữu cơ: điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện về cầu nội địa, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, cùng sự hiện diện của các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan. Trong nghiên cứu này, các khái niệm trọng tâm được định nghĩa rõ ràng gồm: năng lực cạnh tranh địa phương là năng suất tổng hợp mà một tỉnh đạt được từ việc sử dụng các nguồn lực; cụm ngành là mạng lưới tập trung về mặt không gian địa lý của các doanh nghiệp, tổ chức chuyên môn hóa có liên kết dọc và ngang; năng suất lao động tổng thể được đo lường bằng giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tính bình quân trên mỗi lao động có việc làm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập theo quy trình khoa học 3 bước. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê giai đoạn 2001–2012 của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2005 đến năm 2013 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố, cùng Báo cáo chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin Vietnam ICT Index năm 2013.

Đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 15 chuyên gia, lãnh đạo chủ chốt và chuyên viên quản lý cấp sở ngành như Sở Giao thông Vận tải, Sở Công Thương, Sở Tài chính, Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu và đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp trẻ trên địa bàn. Việc lựa chọn phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần kết hợp đánh giá mô hình kim cương là do công cụ này cho phép bóc tách chính xác ba hiệu ứng tăng trưởng năng suất: hiệu ứng chuyển dịch tĩnh giữa các ngành, hiệu ứng động và hiệu ứng nội ngành. Đây là cách tiếp cận thích hợp nhất để nhận diện bản chất tăng trưởng kinh tế của một tỉnh đang trong quá trình chuyển giao công nghiệp quy mô lớn từ năm 2002 đến năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Bà Rịa – Vũng Tàu sở hữu lợi thế tự nhiên vượt trội với bờ biển dài 305,4 km và hệ thống sông Thị Vải sâu từ 10 đến 20 mét, cho phép xây dựng các cụm cảng nước sâu đón tàu tải trọng trên 80.000 tấn chạy thẳng đi châu Âu và châu Mỹ. Đến năm 2013, khu vực Cái Mép – Thị Vải đã thiết lập 16 tuyến hàng hải trực tiếp, giúp doanh nghiệp xuất khẩu tiết kiệm từ 150 đến 300 USD cho mỗi TEU và rút ngắn thời gian vận chuyển từ 23 ngày xuống 19 ngày. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn là hiệu suất khai thác thực tế của các cảng container Cái Mép – Thị Vải đến hết năm 2012 mới chỉ đạt 18% tổng công suất thiết kế 5,2 triệu TEU do tình trạng phát triển cảng manh mún và thiếu đồng bộ.

Thứ hai, môi trường kinh doanh của tỉnh suy giảm nghiêm trọng theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp. Điểm số PCI năm 2013 tụt 18 bậc xuống vị trí 39 trên 64 tỉnh thành với 56,99 điểm. Đáng chú ý nhất, chỉ số tiếp cận đất đai rơi xuống đáy bảng xếp hạng toàn quốc khi đứng thứ 64 với vỏn vẹn 5,31 điểm; có tới 27,03% doanh nghiệp ngoài quốc doanh phản ánh rất khó tiếp cận đất đai và đối mặt rủi ro thu hồi đất cao. Đồng thời, chỉ số cạnh tranh bình đẳng chỉ đạt 4,09 điểm, xếp thứ 58 cả nước, phản ánh sự ưu ái lệch hẳn về phía các doanh nghiệp FDI so với khu vực tư nhân nội địa.

Thứ ba, cơ cấu doanh nghiệp và nguồn nhân lực bộc lộ sự mất cân đối sâu sắc. Toàn tỉnh có 4.501 doanh nghiệp hoạt động vào năm 2012 nhưng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tới 93,8%, trong khi 189 doanh nghiệp FDI hoạt động khép kín, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa công nghệ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2012 chỉ đạt 21,3%, tỷ suất di cư thuần rất thấp ở mức 2,8 người trên 1.000 dân, thấp hơn nhiều so với mức 48,9 của Bình Dương và 12,5 của Đồng Nai, dẫn tới tình trạng thiếu hụt trầm trọng lao động kỹ thuật cao cho cụm ngành logistics.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự nghịch lý giữa tiềm năng hạ tầng cảng biển và kết quả vận hành xuất phát từ quy hoạch thiếu tầm nhìn kết nối. Các trục giao thông huyết mạch như Đường 965 kết nối Quốc lộ 51 vào cảng hay Đường liên cảng Cái Mép – Thị Vải bị chậm tiến độ nhiều năm. Khi so sánh với các quốc gia trong khu vực, chi phí logistics tại Việt Nam chiếm từ 20,9% đến 25,0% GDP, cao hơn rất nhiều so với mức 8,0% của Singapore hay 13,0% của Malaysia. Tại cụm cảng Cái Mép – Thị Vải, một chuyến tàu tải trọng 75.803 DWT phải chịu tổng mức phí dịch vụ lên tới 14.237 USD, cao gấp hơn 5 lần chi phí khoảng 2.500 USD tại cảng Singapore hoặc Hồng Kông.

Trong nghiên cứu, các kết quả định lượng về năng suất lao động và môi trường kinh doanh có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân rã dịch chuyển cấu phần giai đoạn 2002–2011, chỉ rõ sự sụt giảm 30% năng suất trong khu vực công nghiệp và tốc độ tăng trưởng năng suất dịch vụ rất chậm chạp ở mức 4,3%/năm. Đồng thời, một biểu đồ mạng nhện so sánh 9 chỉ số thành phần PCI năm 2013 giữa Bà Rịa – Vũng Tàu với các địa phương lân cận sẽ phản ánh rõ sự đối lập gay gắt giữa hệ thống hạ tầng năng lượng, viễn thông xếp nhóm đầu và các rào cản hành chính về đất đai xếp cuối bảng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách triệt để môi trường kinh doanh và quy trình tiếp cận đất đai. Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn 50% thời gian thẩm định giao đất và công khai 100% quy hoạch sử dụng 18.500 ha đất công nghiệp, cảng biển. Tỉnh cần ban hành khung giá đền bù giải phóng mặt bằng tiệm cận giá thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro tranh chấp, đặt mục tiêu nâng chỉ số tiếp cận đất đai và chỉ số cạnh tranh bình đẳng của PCI lên nhóm 20 tỉnh dẫn đầu trong giai đoạn 2015–2018.

Thứ hai, tập trung nguồn vốn hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối cụm cảng Cái Mép – Thị Vải. Sở Giao thông Vận tải cần phối hợp với các bộ ngành trung ương ưu tiên huy động và giải ngân hiệu quả 39.692 tỷ đồng nhu cầu vốn hạ tầng giao thông đến năm 2020. Trọng tâm là hoàn thành dứt điểm tuyến đường 965, đường 991B, đường Phước Hòa – Cái Mép và khởi công cầu Phước An trước năm 2018 nhằm giải tỏa tình trạng quá tải cục bộ, nâng công suất khai thác thực tế của cụm cảng container từ mức 18% lên trên 60% vào năm 2020.

Thứ ba, quy hoạch và xây dựng khu kho vận tập trung Cái Mép Hạ quy mô 800 ha. Sở Công Thương chủ trì kêu gọi các tập đoàn vận tải đa quốc gia đầu tư hệ thống trung tâm phân phối hàng hóa, kho ngoại quan hiện đại và hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng sau cảng trong giai đoạn 2015–2020, từng bước hình thành cụm ngành logistics hoàn chỉnh thay thế mô hình khai thác cảng thuần túy.

Thứ tư, thiết lập cơ chế điều phối liên kết vùng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành. Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng điều phối liên kết Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam để thống nhất chính sách di dời hệ thống cảng nội thành Thành phố Hồ Chí Minh ra Cái Mép. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu mở rộng liên kết đào tạo với STC-Group Hà Lan và Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, đặt chỉ tiêu cung cấp từ 3.000 đến 5.000 nhân sự chất lượng cao am hiểu nghiệp vụ hàng hải và hải quan điện tử trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách công, bao gồm Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các phát hiện thực chứng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, điều chỉnh quy hoạch logistics và hoàn thiện cơ chế đối thoại hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.

Nhóm doanh nghiệp khai thác cảng biển, công ty vận tải, logistics và xuất nhập khẩu đang hoạt động tại Đông Nam Bộ. Luận văn cung cấp dữ liệu chi tiết về chi phí chuỗi cung ứng, cấu trúc tuyến luồng hàng hải quốc tế và hiện trạng dư thừa công suất để các đơn vị xây dựng chiến lược liên kết, tối ưu hóa tuyến gom hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nhóm các nhà đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp và dịch vụ kho bãi trong và ngoài nước. Các dữ liệu về quy hoạch 2.000 ha đất dịch vụ logistics, biểu giá vận tải và các rào cản thủ tục hành chính giúp nhà đầu tư đánh giá rủi ro pháp lý, từ đó đưa ra quyết định giải ngân vốn chính xác và hiệu quả.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên, học viên sau đại học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản trị chuỗi cung ứng. Tài liệu đóng vai trò là một tình huống nghiên cứu điển hình về việc ứng dụng khung phân tích lợi thế cạnh tranh địa phương của Michael Porter và phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần tại một địa phương có nền kinh tế chuyển dịch cấu trúc sâu sắc.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bà Rịa – Vũng Tàu suy giảm mạnh giai đoạn 2006–2010 là gì? Sự sụt giảm sản lượng khai thác dầu thô từ mức 14,99 triệu tấn năm 2005 xuống 8,45 triệu tấn năm 2011 đã kéo theo tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh chỉ đạt 1,65%/năm trong giai đoạn 2006–2010, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng 10,13% của toàn Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam.

Lợi thế tự nhiên nổi bật nhất để Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển cụm ngành logistics cảng biển là gì? Tỉnh sở hữu bờ biển dài 305,4 km cùng luồng hàng hải Thị Vải sâu tới 20 mét, là địa phương duy nhất trong vùng tiếp nhận được tàu mẹ trọng tải trên 80.000 tấn đi thẳng sang Mỹ và châu Âu, giúp cắt giảm từ 150 đến 300 USD cho mỗi TEU vận chuyển.

Tại sao cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải lại dư thừa công suất khai thác lớn trong giai đoạn nghiên cứu? Tính đến hết năm 2012, các cảng container Cái Mép – Thị Vải mới chỉ khai thác được 18% công suất 5,2 triệu TEU do thiếu sự đồng bộ của hệ thống đường giao thông kết nối như Đường 965, thiếu các trung tâm kho vận tập trung và nguồn hàng nội tỉnh còn phụ thuộc vào các địa phương lân cận.

Môi trường kinh doanh của tỉnh bộc lộ những rào cản nghiêm trọng nào theo bảng xếp hạng PCI năm 2013? Chỉ số PCI năm 2013 của tỉnh xếp thứ 39 toàn quốc, trong đó chỉ số tiếp cận đất đai rơi xuống vị trí cuối cùng với 5,31 điểm, rủi ro thu hồi đất cao và mức độ cạnh tranh bình đẳng chỉ đạt 4,09 điểm do chính quyền ưu tiên doanh nghiệp FDI hơn khối doanh nghiệp tư nhân.

Cần những giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực logistics trên địa bàn tỉnh? Tỉnh cần mở rộng chương trình hợp tác đào tạo giữa trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu với các tổ chức quốc tế như STC-Group Hà Lan và Hiệp hội Logistics Việt Nam nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động chuyên môn, đáp ứng nhu cầu hơn 18.000 nhân sự toàn ngành.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện phân tích chuyên sâu về thực trạng chuyển dịch kinh tế của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và rút ra những đóng góp then chốt sau:

  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khai thác dầu khí sang phát triển cụm ngành logistics vận tải biển và du lịch sinh thái chất lượng cao.
  • Nhận diện cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải với 305,4 km bờ biển là tài sản kinh tế chiến lược duy nhất có khả năng tiếp nhận tàu mẹ vượt đại dương trong toàn vùng.
  • Vạch rõ các rào cản cốt tử về hạ tầng giao thông kết nối chậm trễ và chỉ số tiếp cận đất đai 5,31 điểm đứng cuối bảng xếp hạng toàn quốc năm 2013.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp chính sách công đồng bộ với trọng tâm giải ngân 39.692 tỷ đồng hạ tầng kỹ thuật và hình thành trung tâm logistics 800 ha Cái Mép Hạ đến năm 2020.
  • Đề xuất thành lập cơ chế liên kết vùng thực chất giữa Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng hàng hải quốc gia.

Các nhà quản lý chính sách và cơ quan ban ngành địa phương cần lập tức triển khai việc rà soát quy hoạch đất đai, tháo gỡ khó khăn cho các dự án giao thông liên cảng và chủ động kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch để nắm bắt trọn vẹn cơ hội phục hồi kinh tế bền vững.