phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hà Nội trong bối cảnh hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN - Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu luận văn - Chƣơng 3: Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hà Nội trong bối cảnh hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN - Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hà Nội trong bối cảnh hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu vấn đề này. Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập khá đầy đủ và toàn diện dƣới những góc nhìn khác nhau về các khía cạnh xung quanh vấn đề đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến phát triển kinh tế xã hội, những rào cản cũng nhƣ những mặt hạn chế của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc công bố dƣới dạng chuyên đề, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ, các bài viết đăng trên các báo, tạo chí… Tiêu biểu là các công trình sau: 1.
Hội thảo - Hội thảo “Hướng tới cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và một số gợi ý chính sách đối với Việt Nam”, Ban Kinh tế Trung ƣơng phối hợp với Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 28/10/2014, Hà Nội. Nội dung hội thảo bàn về tiến trình hội nhập của các nƣớc ASEAN vào AEC; phân tích các kết quả đạt đƣợc trong quá trình chuẩn bị cho AEC nhƣ: đánh giá các hoạt động cắt giảm thuế quan, thuận lợi hóa thƣơng mại, các biện pháp phi thuế quan và tự do hóa dịch vụ; phân tích tiến trình thực hiện hiệp định thƣơng mại của ASEAN+1 và Hiệp định kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Bên cạnh đó, hội thảo dự báo tác động của AEC đến tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc thành viên ASEAN nói chung và của Việt Nam nói riêng. Không chỉ có vậy, hội thảo cũng chỉ ra hai vấn đề quan trọng đối với Việt Nam.
Thứ nhất, có một khoảng cách giữa quan điểm, nhận thức về AEC giữa các cơ quan trung ƣơng, 5 địa phƣơng và doanh nghiệp.Thứ hai, các địa phƣơng và doanh nghiệp Việt Nam chƣa thực sự chuẩn bị cho AEC. Ba nguyên nhân đƣợc nêu ra là tầm quan trọng của thị trƣờng ASEAN chƣa đƣợc xác định rõ; bản chất cạnh tranh trong ASEAN và cơ chế phối hợp tuyên truyền và xử lý thông tin hội nhập chƣa thực sự hiệu quả. Các cơ hội và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập vào AEC. Để nâng cao tính hiệu quả của Việt Nam khi tham gia AEC, giúp Việt Nam có sự chuẩn bị phù hợp, các chuyên gia cũng đƣa ra các giải pháp thiết thực đối với các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý và các hiệp hội doanh nghiệp.
- Hội thảo “Nâng cao vị thế của Việt Nam hướng về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 và sau 2015”, Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA) phối hợp cùng Bộ Công Thƣơng, ngày 12/8/2014, Hà Nội. Hội thảo chỉ rõ những việc cần làm của AEC đặc biệt là việc loại bỏ hàng rào thuế quan, thúc đẩy đầu tƣ để Việt Nam trở thành khu vực đầu tƣ hấp dẫn, phát triển nền kinh tế chung làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia trong khu vực. Mục tiêu của Hội thảo hƣớng tới việc trao đổi kinh nghiệm, sáng kiến nhằm tận dụng lợi thế của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vƣợt qua những thách thức trong tƣơng lai nhƣ di chuyển lao động, xây dựng thể chế, cải cách quy định và các vấn đề thế chế nhằm xây dựng (AEC). Hội thảo cũng xoay quanh những vấn đề quan trọng của ASEAN, nhƣ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia chuỗi cung ứng và hội nhập kinh t tế với hy vọng sẽ tận dụng đƣợc cơ hội xây dựng mạng lƣới con ngƣời giữa các quốc gia Đông Á và ERIA, kết nối với các quốc gia phát triển khác.
- Hội thảo“Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) – thời cơ và thách thức”, trƣờng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, 15/9/2015, Hà Nội. Hội thảo tập trung chỉ ra cơ hội, thách thức của Việt Nam khi gia nhập AEC. 6 Đồng thời tập trung vào những vấn đề chính nhƣ doanh nghiệp, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài và chất lƣợng nguồn nhân lực. Hội thảo cũng đƣa ra những giải pháp cơ bản cho Việt Nam để vƣợt qua thách thức, tận dụng tốt cơ hội trong sân chơi ASEAN này.
- Hội thảo“Cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động tới phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội”, UBND Thành phố Hà Nội, ngày 22/9/2015. Hội thảo nhằm nâng cao nhận thức về AEC, những tác động của nó đến sự phát triển của thủ đô Hà Nội. AEC đƣợc thành lập nhằm tạo dựng một thị trƣờng chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất giữa các quốc gia thành viên ASEAN, thúc đẩy sự lƣu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tƣ, lao động chất lƣợng cao, có tay nghề… Với vị thế là Thủ đô, trung tâm chính trị-hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nƣớc, Hà Nội sẽ đối diện với những cơ hội và thách thức, thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội và khẳng định vai trò đi đầu, tiên phong, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững, tận dụng tốt lợi thế hội nhập AEC. Các tác giả tập trung phân tích tổng quan, thời cơ, thách thức đối với Việt Nam; Các doanh nghiệp Hà Nội trƣớc tác động của AEC; Tác động của AEC đến các ngành thƣơng mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ và du lịch, đầu tƣ nƣớc ngoài…trên địa bàn Hà Nội; Đánh giá tác động AEC đến văn hóa-xã hội, phát triển đô thị của Hà Nội.
Sách chuyên khảo và tạp chí - PGS,TS Trần Thị Minh Châu (chủ biên) ,“Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội 2008. Cuốn sách bên cạnh việc làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách khuyến khích đầu tƣ của một số nƣớc nhƣ: Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Hàn Quốc, Thái Lan. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm 7 đối với Việt Nam; cuốn sách đã phân tích một cách hệ thống quá trình hoạch định và triển khai thực hiện chính sách: thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc và khuyến khích đầu tƣ theo Luật đầu tƣ năm 2005; làm rõ những kết quả đã đạt đƣợc, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục. Đồng thời, cuốn sách đã đƣa ra dự báo xu hƣớng đầu tƣ ở nƣớc ta trong những năm tới, đề xuất 6 phƣơng hƣớng chủ yếu tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tƣ ở nƣớc ta.
Đối với các giải pháp cơ bản, các tác giả chia thành các nhóm giải pháp: hoàn thiện khung khổ pháp lý an toàn, minh bạch, ổn định cho đầu tƣ; nâng cao chất lƣợng quy hoạch của Nhà nƣớc; đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo môi trƣờng thông thoáng cho đầu tƣ; đổi mới chính sách ƣu đãi đầu tƣ; đổi mới chính sách đầu tƣ xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc; tăng cƣờng quảng bá hình ảnh đất nƣớc cho nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. - GS,TS Lê Hữu Nghĩa – TS Lê Văn Chiến (đồng chủ biên), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động và trình độ công nghệ của Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội 2014. Cuốn sách cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, phân tích thực trạng đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam trong những năm qua; từ đó thấy đƣợc những tác động của nó đến năng suất lao động và trình độ công nghệ của Việt Nam, để có những giải pháp phù hợp trong giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, tác giả đƣa ra những kiến nghị và chính sách phù hợp.
- Phùng Xuân Nhạ, “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”, NXB ĐHQGHN, Hà Nội 2013. Cuốn sách cập nhật các vấn đề lý luận và thực tiễn của FDI ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích các luận cứ khoa học và làm rõ thực trạng các chính sách cũng nhƣ kết quả hoạt động FDI ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua, từ đó đƣa ra một số gợi ý điều chỉnh chính sách, biện pháp điều tiết các hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI ở Việt Nam. 8 Năm 2005, Việt Nam đã điều chỉnh Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài thành Luật Đầu tƣ chung. Tuy nhiên, nhiều quy định cụ thể của Luật (2005) còn chƣa đƣợc rõ ràng, chƣa đồng bộ và nhất quán với các chính sách hiện hành có liên quan đến đầu tƣ nƣớc ngoài, do đó khiến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài lo ngại và các bộ, ngành, địa phƣơng lúng túng trong thực hiện.
Mặt khác, mục tiêu của việc hoạch định và điều chỉnh chính sách FDI không chỉ nhằm thu hút nhiều đầu tƣ nƣớc ngoài (tăng về “lƣợng”), mà còn phải giải quyết đƣợc các vấn đề về “chất” của FDI và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Thực tế, các chính sách FDI của Việt Nam còn thiên về lƣợng hơn là chất, hầu nhƣ chƣa chú trọng nhiều đến sự phát triển bền vững. Điều này đƣợc thể hiện khá rõ ở việc giá trị gia tăng trong các sản phẩm của FDI ở Việt Nam còn thấp, ít sự liên kết (tác động lan tỏa) giữa khu vực có vốn FDI với các doanh nghiệp nội địa, phần lớn công nghệ đƣợc chuyển giao ở trình độ trung bình so với thế giới và còn ít công nghệ sạch – thân thiện với môi trƣờng. Mặt khác, qua thực tiễn cho thấy, quy trình điều chỉnh chính sách FDI của Việt Nam còn thiếu sự hợp tác chặt chẽ của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và sự phối hợp ít kịp thời giữa các bộ, ngành trong việc đƣa ra những kế hoạch hành động cụ thể.