Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế và khoa học công nghệ hàng đầu của cả nước, đóng góp khoảng 34% tổng số doanh nghiệp, 23% lực lượng lao động, 23,4% GDP và 30% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc. Mặc dù cộng đồng doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ về số lượng, bức tranh công nghiệp thành phố lại tồn tại một khiếm khuyết cơ cấu nghiêm trọng: hơn 98% doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tới 96%. Đáng chú ý, doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm khoảng 2% và liên tục suy giảm trong giai đoạn 2011 - 2014, giảm từ 603 doanh nghiệp xuống còn 551 doanh nghiệp trên toàn thành phố, riêng trong ngành công nghiệp giảm 10% từ 260 xuống 235 doanh nghiệp.

Thực trạng này phản ánh hiện tượng "thiếu vắng tuyến giữa" (Missing Middle), tạo ra sự phân mảnh sâu sắc trong hệ sinh thái sản xuất. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là nhận diện toàn diện hiện tượng thiếu vắng doanh nghiệp quy mô vừa, phân tích vai trò động lực của nhóm này và làm rõ các rào cản thể chế cũng như nguồn lực khiến các doanh nghiệp không thể hoặc không muốn nâng quy mô.

Nghiên cứu tập trung vào hai ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố là Cơ khí và Điện tử - Công nghệ thông tin trong giai đoạn 2011 - 2016. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt trong việc cung cấp cơ sở thực chứng để hoạch định chính sách công, hướng tới mục tiêu xây dựng 500.000 doanh nghiệp hoạt động bền vững và nâng cao năng lực nội sinh cho kinh tế đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp các lý thuyết kinh tế học doanh nghiệp và chính sách công hiện đại. Thứ nhất, Lý thuyết tăng trưởng doanh nghiệp của Edith Penrose nhấn mạnh rằng năng lực quản trị nội bộ và khả năng phối hợp, tích tụ các nguồn lực (vốn, công nghệ, nhân lực) là yếu tố quyết định tốc độ mở rộng quy mô của tổ chức. Thứ hai, Lý thuyết quy mô doanh nghiệp tối ưu chỉ ra rằng doanh nghiệp luôn có xu hướng dịch chuyển từ quy mô ban đầu đến ngưỡng có chi phí trung bình thấp nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Về mặt khái niệm, nghiên cứu vận dụng thuật ngữ "Missing Middle" do Carl Leidholm và Donald Mead khởi xướng năm 1987, kết hợp với các khung phát triển của Đại học Harvard và các công trình thực nghiệm của Hsieh và Olken (2014) để định nghĩa sự thiếu hụt nghiêm trọng của các doanh nghiệp quy mô vừa trong tương quan với khối siêu nhỏ và khối quy mô lớn.

Các khái niệm then chốt bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME); Doanh nghiệp quy mô vừa (ME - xác định từ 201 đến 300 lao động theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP); Chi phí giao dịch (bao gồm chi phí thời gian tuân thủ thủ tục hành chính và chi phí phi chính thức); và Năng lực liên kết chuỗi giá trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp (mixed-methods), kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định lượng và định tính thực chứng. Dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được trích xuất từ nguồn Điều tra doanh nghiệp của Cục Thống kê TP.HCM năm 2016 với tổng số 24.666 doanh nghiệp, qua đó lọc ra 764 doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc hai ngành nghiên cứu (gồm 572 doanh nghiệp Cơ khí và 192 doanh nghiệp Điện tử - Công nghệ thông tin).

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát định lượng 60 doanh nghiệp thông qua bảng hỏi cấu trúc gồm 66 biến quan sát theo thang đo Likert, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các hội thảo và hiệp hội chuyên ngành. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 20 chuyên gia, đại diện cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp đầu ngành theo phương pháp chọn mẫu phán đoán.

Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính phức tạp của hiện tượng "thiếu vắng tuyến giữa", đòi hỏi phải đối soát giữa số liệu thống kê vĩ mô với những đánh giá vi mô từ phía người trong cuộc để bóc tách chính xác các động cơ hành vi và rào cản thể chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định sự tồn tại rõ rệt của hiện tượng thiếu vắng doanh nghiệp quy mô vừa ở cả hai ngành trọng yếu. Tính đến năm 2014, ngành Cơ khí có 4.196 doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nhưng chỉ có 31 doanh nghiệp vừa (chiếm 0,72%) và 40 doanh nghiệp lớn; ngành Điện tử - Công nghệ thông tin có 685 doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nhưng chỉ có 9 doanh nghiệp vừa (chiếm 1,2%) và 42 doanh nghiệp lớn. Sự thiếu hụt không chỉ thể hiện ở số lượng cơ sở kinh doanh và lao động mà còn xuất hiện đồng loạt ở các chỉ tiêu vốn đầu tư, nợ vay và thu nhập bình quân của người lao động.

Thứ hai, nhóm doanh nghiệp quy mô vừa thể hiện hiệu quả hoạt động và năng lực vượt trội. Lát cắt bình quân từ dữ liệu thống kê cho thấy năng suất lao động của một doanh nghiệp vừa cao gấp 2 lần so với nhóm nhỏ/siêu nhỏ và đạt 150% so với nhóm doanh nghiệp lớn. Mức thu nhập bình quân người lao động tại doanh nghiệp vừa ngành Điện tử - CNTT đạt xấp xỉ 160 triệu đồng/năm, vượt qua cả khối doanh nghiệp lớn. Ngoài ra, 100% doanh nghiệp quy mô vừa tham gia khảo sát có hoạt động đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) trong 3 năm liên tiếp, cao hơn mức 64% ở nhóm siêu nhỏ.

Thứ ba, nghiên cứu nhận diện 8 nhóm rào cản tăng trưởng cốt lõi. 100% doanh nghiệp và chuyên gia xác nhận tiếp cận thông tin và thị trường là trở ngại lớn nhất; 88% đánh giá huy động vốn là rào cản; 96% gặp khó khăn về đổi mới công nghệ và 97% bị giới hạn bởi năng lực quản trị. Đáng chú ý, 75% doanh nghiệp xác nhận đang phải gánh chịu chi phí phi chính thức, trong đó các doanh nghiệp nhỏ chịu áp lực lớn nhất với tỷ lệ chi phí chiếm trên 10% doanh thu. 53% doanh nghiệp bị thanh tra, kiểm tra trong năm, tập trung nặng nhất ở các doanh nghiệp đang có xu hướng mở rộng quy mô.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa rõ nét qua các biểu đồ phân phối cấu trúc doanh nghiệp dạng lõm ở giữa (hình chữ U ngược) khi so sánh tương quan giữa số lượng lao động và giá trị gia tăng tạo ra. Đi sâu vào giải thích nguyên nhân, nghiên cứu đúc kết hai trạng thái tâm lý hành vi mang tính cấu trúc: "Doanh nghiệp không dám lớn" (chủ yếu ở nhóm siêu nhỏ do hạn chế nguồn lực tài chính, công nghệ và sợ rủi ro) và "Doanh nghiệp không muốn lớn" (tập trung ở nhóm quy mô nhỏ).

Khi quy mô doanh nghiệp tăng lên, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tần suất thanh tra và nghĩa vụ thuế gia tăng nhanh chóng, trong khi các chính sách ưu đãi không đủ bù đắp chi phí chính thức và phi chính thức. So với nhận định của Catherine (2017) và Phạm & Takayama (2015), nghiên cứu này bổ sung bằng chứng cho thấy mối liên kết giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau và với khối FDI vô cùng lỏng lẻo. Thiếu vắng lực lượng doanh nghiệp vừa khiến chuỗi giá trị công nghiệp thành phố bị đứt gãy, biến các doanh nghiệp siêu nhỏ thành các đơn vị gia công manh mún và khó tích tụ năng lực công nghệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để điểm nghẽn thiếu vắng doanh nghiệp quy mô vừa, thành phố cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ với sự tham gia của các bên liên quan:

  1. Quy hoạch và phát triển quỹ đất công nghiệp chuyên biệt: Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp TP.HCM (HEPZA) chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng các phân khu nhà xưởng cao tầng, diện tích linh hoạt từ 500 đến 2.000 m2 dành riêng cho doanh nghiệp vừa ngành Cơ khí và Điện tử, đặt mục tiêu giảm 30% chi phí tiếp cận mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2022.

  2. Nâng cấp gói tín dụng kích cầu và hỗ trợ công nghệ: Sở Công Thương phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM mở rộng phạm vi chương trình kích cầu đầu tư, hỗ trợ 50% đến 100% lãi vay cho các dự án đổi mới máy móc tự động hóa của doanh nghiệp quy mô vừa, hướng tới tỷ lệ 60% doanh nghiệp vừa tiếp cận được vốn vay trung và dài hạn vào năm 2023.

  3. Chương trình chuẩn hóa năng lực quản trị và đào tạo nhân lực: Sở Khoa học và Công nghệ cùng Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM triển khai đề án đào tạo quản trị doanh nghiệp hiện đại cho 1.000 lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp, hỗ trợ 50% kinh phí đánh giá chứng nhận chất lượng quốc tế (ISO, CE), nâng tỷ lệ doanh nghiệp vừa đạt chuẩn quốc tế lên 40% đến năm 2025.

  4. Cải cách thực chất môi trường kinh doanh và giảm chi phí giao dịch: Ủy ban nhân dân TP.HCM ban hành quy chế liên thông kiểm tra doanh nghiệp không quá 1 lần/năm, cắt giảm tối thiểu 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính về hải quan, đất đai và môi trường trong giai đoạn 2018 - 2021 nhằm tạo tâm lý an tâm phát triển quy mô.

  5. Xây dựng mạng lưới liên kết cụm ngành và chuỗi cung ứng: Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ làm đầu mối kết nối các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp FDI với tối thiểu 100 doanh nghiệp vừa trong nước, đóng vai trò hạt nhân cung cấp công nghiệp hỗ trợ vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, HEPZA): Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để thiết kế các chính sách hỗ trợ phân khúc theo đúng quy mô, tránh tình trạng chính sách cào bằng hoặc chỉ tập trung vào nhóm doanh nghiệp lớn.

  2. Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất (đặc biệt ngành Cơ khí, Điện tử - CNTT): Giúp nhận diện rõ các điểm nghẽn nội tại về năng suất lao động, chi phí giao dịch và chiến lược đổi mới công nghệ, từ đó xây dựng lộ trình nâng quy mô an toàn và hiệu quả.

  3. Các hiệp hội ngành nghề (Hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện, Hội Tin học TP.HCM): Sử dụng các phát hiện nghiên cứu để nâng cao vai trò cầu nối, tổ chức các mạng lưới liên kết kinh doanh và phản biện chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi hội viên.

  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Chính sách công và Kinh tế phát triển: Cung cấp khung phân tích thực nghiệm mẫu mực về hiện tượng "Missing Middle" và phương pháp đánh giá chính sách công nghiệp tại các đô thị đang chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Hiện tượng "Missing Middle" trong công nghiệp TP.HCM được biểu hiện cụ thể như thế nào? Hiện tượng này biểu hiện qua sự phân bố mất cân đối nghiêm trọng: doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm hơn 96%, doanh nghiệp lớn chiếm khoảng 2 - 3%, trong khi doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm chưa đầy 1% trong ngành Cơ khí và 1,2% trong ngành Điện tử - CNTT. Sự thiếu vắng này tạo thành một khoảng trống lớn về năng lực sản xuất ở phân khúc giữa.

Tại sao doanh nghiệp quy mô vừa lại có năng suất lao động cao hơn cả doanh nghiệp quy mô lớn? Dữ liệu khảo sát năm 2016 chứng minh năng suất lao động bình quân của doanh nghiệp vừa đạt mức vượt trội (gấp đôi nhóm nhỏ và bằng 150% nhóm lớn). Nguyên nhân là do doanh nghiệp vừa sở hữu cơ cấu bộ máy tinh gọn, khả năng thích ứng linh hoạt, đồng thời có tỷ lệ đầu tư chiều sâu cho đổi mới công nghệ và R&D đạt mức tuyệt đối 100%.

Vì sao nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tại thành phố lại "không dám lớn" hoặc "không muốn lớn"? Trạng thái "không dám lớn" bắt nguồn từ sự thiếu hụt vốn, mặt bằng và nhân lực kỹ năng. Trong khi đó, trạng thái "không muốn lớn" xuất phát từ môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro: quy mô càng lớn thì áp lực thanh kiểm tra càng dày đặc, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và chi phí phi chính thức càng tăng cao.

Ngành Cơ khí và ngành Điện tử - CNTT có những rào cản tăng quy mô khác biệt ra sao? Ngành Cơ khí chịu áp lực nặng nề nhất về diện tích mặt bằng sản xuất và năng lực quản trị truyền thống, với đặc thù suất sinh lợi chậm và chi phí đầu tư thiết bị cao. Ngược lại, ngành Điện tử - CNTT đối mặt với rào cản gay gắt về huy động vốn đầu tư công nghệ mới và tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực trình độ cao.

Đâu là đòn bẩy chính sách quan trọng nhất để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển lên quy mô vừa? Đòn bẩy quan trọng nhất là tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn và giảm thiểu chi phí giao dịch. Đi kèm với đó, nhà nước cần giải quyết dứt điểm nút thắt về mặt bằng sản xuất tiêu chuẩn thông qua các cụm công nghiệp chuyên ngành và triển khai các gói tín dụng kích cầu trung hạn thiết thực.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh một cách khoa học và thực chứng về sự tồn tại của hiện tượng "thiếu vắng tuyến giữa" tại hai ngành công nghiệp trọng yếu của TP.HCM.
  • Khẳng định doanh nghiệp quy mô vừa là hạt nhân nâng cao năng suất lao động, khả năng đổi mới sáng tạo và thu nhập cho người lao động, đóng vai trò kết nối quan trọng trong nền kinh tế.
  • Làm rõ nguyên nhân cốt lõi khiến doanh nghiệp "không dám lớn" và "không muốn lớn" xuất phát từ các rào cản môi trường kinh doanh, chi phí giao dịch và sự thiếu đồng bộ của chính sách hỗ trợ.
  • Đề xuất khung chính sách công 5 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2018 đến năm 2025 cho từng nhóm ngành và quy mô doanh nghiệp.
  • Để xây dựng nền công nghiệp tự chủ và có năng lực cạnh tranh cao, các cơ quan ban ngành thành phố cần nhanh chóng chuyển đổi tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, tạo bệ phóng vững chắc cho các doanh nghiệp vừa vươn lên mạnh mẽ.