Đặt vấn đề Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 792. Trong đó đất được quy hoạch cho lâm nghiệp chiếm 71,4% diện tích tự nhiên của tỉnh. Theo kết quả điều tra đã công bố, tỉnh Hà Giang có trên 1.100 loài cây dược liệu trong tổng số hơn 5000 loài cây dược liệu của cả nước. Hà Giang được đánh giá là vùng có độ đa dạng sinh học cao về các loài cây dược liệu quý.
Cùng với đó đây là vùng được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện khí hậu và điều kiện tự nhiên nên có nhiều tiềm năng để phát triển cây dược liệu gắn với phát triển du lịch sinh thái vùng cao. Với những thế mạnh của vùng, Hà Giang sẽ có những thuận lợi trong sản xuất giống, bảo tồn và sản xuất các sản phẩm dược liệu từ nguồn cây thuốc quý bản địa. Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc quý đang bị khai thác quá mức và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Thực trạng bảo tồn và phát triển các loài cây dược liệu tại địa phương còn nhiều hạn chế từ giống cho đến trồng và thu hoạch.
Giống sử dụng không rõ nguồn gốc, giống tạp, chất lượng chưa cao, nhân giống bằng phương pháp truyền thống nên giống không được đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Vì vậy, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loài cây dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao đã và đang được tỉnh Hà Giang xem là nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách theo Kết luận sô 71-KL/TW ngày 24/9/2014 của Ban Bí thư Trung ương và triển khai mục tiêu phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu của tỉnh và vùng Tây Bắc. Trong số các loài thảo dược quý, cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) được biết đến là một trong số loài có giá trị kinh tế cao và cây dược liệu dễ trồng. Cây Kim ngân phân bố ở hầu hết các huyện của tỉnh Hà Giang, thường mọc ở vùng chân và sườn núi.
h 2 Tuy nhiên, nguồn giống cây Kim ngân chưa đáp ứng đủ về cả số lượng và chất lượng. Đa số việc thu mua cây Kim ngân từ nguồn tự nhiên, chưa có quy hoạch do vậy, việc phát triển vùng nguyên liệu cho ngành dược gặp nhiều khó khăn. Xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu sản xuất giống, việc xây dựng mô hình vườn giống gốc cho cây Kim ngân là rất cần thiết nhằm cung cấp nguồn vật liệu nhân giống cho cây Kim ngân tốt nhất cả về sinh trưởng, phát triển và hàm lượng dược liệu, chúng Tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thiết kế xây dựng vườn giống gốc cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại huyện Vị xuyên tỉnh Hà Giang” làm cơ sở cho công tác bảo tồn, phát triển và nhân giống loài cây này của tỉnh Hà Giang. Mục đích nghiên cứu Xây dựng được vườn giống gốc bao gồm các cây mẹ Kim ngân sau khi được tuyển chọn, đáp ứng được các tiêu chí gồm: chất lượng dược liệu tốt, sinh trưởng phát triển nhanh, chống chịu sâu bệnh hại phục vụ công tác nhân giống trên quy mô lớn 1.
Yêu cầu nghiên cứu - Lựa chọn được địa điểm xây dựng vườn giống gốc cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang. - Thiết kế xây dựng được mô hình vườn giống gốc cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang với diện tích 2000 m2. - Đánh giá được tỉ lệ sống, bật chồi của vườn giống gốc. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về loài cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) có xuất xứ tại tỉnh Hà Giang h 3 - Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp nguồn vật liệu cây giống gốc phục vụ cho các đề tài nghiên cứu về bảo tồn phát triển nguồn gen cây Kim ngân và sản xuất các sản phẩm dược liệu từ cây Kim ngân. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết vấn đề cung cấp cây giống cho hoạt đồng trồng và phát triển dược liệu của tỉnh Hà Giang nói riêng và cả nước nói chung. - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã học và bổ sung vào kiến thức lý thuyết được học thông qua hoạt động thực tiễn. - Giúp bản thân sinh viên học hỏi kiến thức, tích lũy được kinh nghiệm thực tế cũng như tác phong làm việc, nghiên cứu khoa học phục cho cho công tác sau này.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu chung về cây Kim Ngân Cây Kim ngân có tên Khoa học là Lonicera japonica Thunb, ngoài ra có các tên khác như Nhẫn đông, Ngân hoa, Song hoa, Nhị hoa, Boóc kim ngần (Tày), Chừa giang khằm (Thái) (Võ Văn Chi, 1997). Dây leo bằng thân quấn phân cành nhiều Lá mọc đối, hình trái xoan cỡ 3 - 7 x 2 - 3 cm, không lông, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới hơi nhạt màu. Cụm hoa xim mọc từng đôi từ kẽ lá, tập trung ở đầu cành, cuống lá rất ngắn, lá bắc dạng lá.
Hoa hình ống màu trắng sau ngả vàng nhạt, có mùi thơm, dài 3 - 4 cm, đài nhỏ. Cánh hoa 5 chỉ có 2 cánh hợp thành 1 môi cánh hoa ngắn hơn nhiều so với ống hoa. Nhị 5, nhị nhỏ, vòi nhụy dài hơn nhị. Quả hình trứng dài 0,5 - 0,6 mm có 1 hạt nhỏ (Võ Văn Chi, 1997).[1] Đặc điểm nông sinh học: Kim ngân thường mọc hoang ở những vùng rừng núi, ưa ẩm và ưa sáng.
Kim ngân thích nghi với điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau, thường phân bố ở vùng cao và trung du miền núi. Kim Ngân thích hợp với vùng đất có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 500- 2000m, nhiệt độ trung bình từ 20-230C, độ ẩm 83-86%. Kim ngân thường mọc ở trên núi cao, trong rừng ở vị trí chân và sườn đồi núi do đó nó thích hợp với loại đất thịt nhẹ.[1] Giá trị y học: Từ lâu con người đã biết đến và sử dụng cây Kim ngân để làm thuốc. Họ cho rằng cây Kim ngân có tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt, lở ngứa, dị ứng… Người dân thường sử dụng chủ yếu là hoa, h 5 ngoài ra còn lấy cành và lá để đun nước tắm (Lê Trần Đức, 1997).[2] Cây Kim ngân có chứa nhiều dược chất tốt như tannin, Inositol, Luteolin, b-Sitosterol-D-Glucoside, Isochlorogenic acid, Ginnol,… Nhờ các hợp chất sinh học này mà Kim ngân được sử dụng để điều trị bệnh, có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm.
Nước sắc hoa kim ngân giúp ức chế mạnh đối với tụ cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lỵ Shiga, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, trực khuẩn lao, não cầu khuẩn, trực khuẩn ho gà, liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn,… cũng như các loại nấm ngoài da, virus cúm Spirochete…Tác dụng kháng viêm, kháng virus. Ngoài ra, sử dụng sinh khối cây Kim Ngân làm nước uống có tác dụng giải nhiệt, giảm chất xuất tiết, làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu. Kỹ thuật trồng và chăm sóc - Thời vụ trồng: quanh năm - Giống : Trồng bằng hom, có hai loại kim ngân, loại có lông và không lông - Xử lý thực bì, làm đất: Tùy vào địa địa hình đất ruộng, đất đồi, ruộng bậc thang người ta có cách xử lý thực bì khác nhau. Đối với đất bằng phẳng ít đá; đất ruộng có thể xử lý thực bì và làm đất toàn diện; lên luống rộng từ 0,80 đến 1,0m; cao 15 đến 20 cm.
Đối với đất đồi, đất dốc xử lý thực bì toàn diện cuốc hố theo hàng, kích thước hố 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm. - Mật độ trồng: Tùy theo loại đất và phương thức trồng mật độ dao động từ 2.500 cây/ha đến 10.000 cây/ha - Tùy vào mật độ trồng và phương thức trồng có thể bắc dàn hoặc cắm cọc để cho cây leo. - Sản lượng theo quy trình trồng năm đầu tiên đạt trên 15 đến 25tấn/ha. Năm thứ 2 có thể đạt gấp 2 đến 3 lần năm đầu tiên.
Cây trồng có thể thu hái trong nhiều năm. - Chăm sóc: Luôn tưới tiêu để giữ ẩm cho đất, có thể tưới ngày 2 lần h 6 vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát, đất giữ ẩm tốt có thể vài ngày tưới 1 lần, tránh tưới quá nhiều tránh gây úng thối rễ. Sau khi cây bén rễ có thể tận dụng phân chuồng đã ủ hoai hoặc phân NPK để cây phát triển tốt. Thu hái và chế biến - Thu dây: Sau khi trồng có thể thu lứa đầu tiên sau 50-60 ngày, sau đó cứ 6 tháng thu một lần.Cắt cành cách mặt đất khoảng 30 cm, cắt khúc nhỏ dài 3- 4cm, đem phơi hoặc sấy khô độ ẩm đạt dưới 12%.
- Thu hoa: Thường cuối tháng 5 đầu tháng sáu (Miền bắc). Cây ra hoa tập trung trong khoảng 15 ngày. Thời điểm thu hái tốt nhất khi nụ hoa chuyển bị nở, vào buổi chiều tối hoặc sáng sớm. Sau khi thu đem phơi hoặc sấy ở nhiệt độ 20 – 25 oC.
Tình hình thị trường: Kim ngân là cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao đang được trồng ở nhiều tỉnh miền núi nước ta. Cây Kim ngân chủ yếu được sử dụng để chữa bệnh và trồng làm cảnh. Nhu cầu thị trưởng của cây Kim ngân ngày càng tăng. Giá bán thân cành Kim ngân có giá khoảng 130.
Nụ hoa Kim ngân bán với giá: 350. Hình ảnh cây Kim ngân tại Vị Xuyên Hà Giang 2. Tình hình nghiên cứu bảo tồn, nhân giống cây Kim ngân ở Việt Nam Kim ngân được nhân giống hữu tính hoặc vô tính bằng hạt, giâm hom h 7 và nuôi cấy mô tế bào. Loài đã được nghiên cứu bảo tồn và phát triển ở nước ta.
Một số nghiên cứu đã được công bố về nhân giống Kim ngân ở nước ta. Hoàng Thị Thùy Dương, (2015) “Nghiên cứu đăc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống loài cây Kim ngân rừng (Lonicera bournei Hemsl. ex Forb & Hemsl.)[3] tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Chất kích thích ra rễ có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình hình thành mô sẹo của hom cây Kim ngân rừng (IAA 750 ppm) có tỷ lệ số hom ra mô sẹo cao nhất đạt 91,11%.
Nồng độ NAA 750 ppm cho tỷ lệ số hom sống cao nhất. Tỷ lệ ra rễ cao nhất ở công thức (IBA 1000 ppm) 46,67%. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.