Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ xa xưa, con người đã có những hiểu biết nhất định về ý nghĩa và vai trò của trải nghiệm với việc HT của mỗi cá nhân. Ngay từ thời kỳ xa xưa, Aristotle (384- 332TCN) đã cho rằng: "Những điều chúng ta phải học trước rồi mới làm, chúng ta học thông qua làm việc đó" (tham khảo trong Tạp chí công nghệ giáo dục số 2, tháng 6/ 2014, trang 41) John Deway (1859 - 1952) - một triết gia nổi tiếng Mỹ - tác giả cuốn sách “Experience and Education” đã kết luận “giáo dục là gì và những điều kiện nào cần phải được thỏa mãn để giáo dục có thể trở thành một thực tế chứ không phải một cái tên gọi hoặc một khẩu hiệu” (dẫn theo Nguyễn Mạnh Tường.
Lý luận giáo dục châu Âu. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994). Ông chỉ ra rằng nhà trường phải là một hình thái của đời sống cộng đồng và trẻ em sống và tiếp thu kiến thức từ cộng đồng đó. Do vậy, phương pháp dạy trẻ học là giúp trẻ học một cách tự nhiên, không ngăn cản trẻ phát triển tự nhiên, do đó ông nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm của người học.
Những công trình ban đầu về Lý thuyết học qua trải nghiệm thuộc về David A. Ngay từ 1984, bằng cách kết hợp các tư tưởng của John Deway - Chủ nghĩa thực dụng, của J.Lewin - Tâm lý học xã hội, của J.Piaget - Lý thuyết phát triển nhận thức, David A. Kolb đã đưa ra mô hình học tập mới với quan điểm “Học tập là quá trình trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm”. Ông đã đề ra chu trình học tập dựa vào trải nghiệm với kinh nghiệm/trải nghiệm là một trong bốn giai đoạn của chu trình học tập đó.
Ông cho rằng: muốn đạt được hiệu quả tốt nhất thì người học cần trải qua cả bốn giai đoạn trong chu trình đó và “học tập là một quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm” [7]. Từ những tư tưởng này, David Kolb đã khởi xướng xu hướng - trào lưu HT thông qua trải nghiệm với các tác giả John D. Brandsford, James Pellegrino, Rod Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Cocking, and Suzane Donovan (25]). Kolb đã chỉ ra rằng HĐTN có vai trò rất quan trọng trong dạy học phát triển NL HS;.
Trong rất nhiều quan điểm, triết lý khác nhau về giáo dục trải nghiệm, không thể không nhắc đến quan điểm giáo dục Montessori. Theo Montessori, "Trẻ tự đào luyện mình trong mối quan hệ với môi trường" [15, tr. Có nghĩa là những gì mà trẻ có được phải "thông qua hoàn cảnh sống bên ngoài", thông qua HĐ tương tác trực tiếp của trẻ với môi trường. Một trong những tư tưởng triết lý của Montessori là chúng ta "không nên coi trọng trí óc hơn là đôi tay, mà phải kết hợp cả HĐ của trí óc với đôi tay tạo thành một HĐ sáng tạo song hành" [15, tr59].
Với quan niệm cho rằng đôi tay là công cụ của trí tuệ, phối hợp với bộ não để tạo nên trí thông minh của trẻ, "trải nghiệm" theo quan điểm Montessori nhấn mạnh việc học được thực hiện thông qua các tương tác với môi trường bằng sự kết hợp của nhận thức cảm tính và lý tính (sự phối hợp của đôi tay và trí óc) và cho rằng đó là một phần không thể thiếu để trẻ phát triển và hoàn thiện. Vai trò của trẻ trong quá trình trải nghiệm không chỉ là người tham gia mà chính là chủ thể thực hiện các tương tác với đối tượng; thông qua quá trình tương tác này mà kiến tạo những kiến thức mới trở thành kinh nghiệm của bản thân. Nghiên cứu ở Việt Nam Trong khoảng những thập kỷ đầu tiên của thống kê XXI, ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu triển khai đưa HĐTN vào giáo dục như: a) Về bài báo khoa học có các kết quả nghiên cứu từ cơ sở lý luận đến định hướng vận dụng thực tiễn, triển khai cụ thể như: - Tác giả Đỗ Ngọc Thống (2015) trong [18] đã đúc kết kinh nghiệm quốc tế về HĐTN và liên hệ với thực tiễn giáo dục ở Việt Nam. - Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2015) trong [17] nghiên cứu về vai trò của HĐTN sáng tạo - xem đó như một loại HĐ HT quan trọng cần được quan tâm đến trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Trần Văn Tính trong [19] thì nghiên cứu việc đánh giá NL người học qua HĐTN sáng tạo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c - Bùi Ngọc Diệp (2015) trong [6] bàn đến những hình thức tổ chức các HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông. - Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung (2015) đưa ra quan niệm về HĐTN sáng tạo và một số hình thức tổ chức HĐTN sáng tạo cho HS phổ thông. b) Về sách chuyên khảo có cuốn sách Tổ chức HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông của tác giả Nguyễn Thị Liên ([13]), trong đó đề cập đến cơ sở lý luận và đặc biệt là cách thức tổ chức HĐTN cho HS trong phạm vi nhà trường phổ thông.
c) Về tài liệu tổng hợp kết quả nghiên cứu ở hội thảo khoa học có: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS phổ thông và mô hình phổ thông gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương, Kỷ yếu hội thảo (2014) của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Tuyên Quang ngày 30/8/2014. Trong đó đăng tải các kết quả các kinh nghiệm tổ chức HĐTN cho HS trong các môn học phổ thông; đặt HĐTN trong mối liên hệ với đặc thù kinh tế ở từng địa phương. Nhìn chung, những công trình ở Việt Nam đã được các tác giả vận dụng lý luận về HĐTN trong nhiều lĩnh vực, phạm vi và mức độ khác nhau, cả tầm vĩ mô (phát triển lý luận) và vi mô (vận dụng cụ thể), cả ở bậc học phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Đây chính là căn cứ quan trọng để chúng tôi triển khai vận dụng mô hình DH thông qua tổ chức các HĐTN cho HS trong môn Toán ở lớp 9 trường THCS.
Một số vấn đề lý luận về hoạt động trải nghiệm 1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm Theo nghĩa từ điển [24], trải nghiệm (experience) được hiểu là quá trình chủ thể tham gia, quan sát, tiếp xúc với sự vật, sự kiện. Trải nghiệm thường đi đến kết quả là hiểu biết (tri thức) về sự vật, hiện tượng và khả năng (kỹ năng) làm việc với đối tượng, sự vật, giải quyết được vấn đề nào đó. Trong giáo dục, trải nghiệm được xem là quá trình nhận thức, khám phá đối tượng bằng việc tương tác với đối tượng thông qua các thao tác hành động vật chất bên ngoài và các quá trình tâm lý bên trong (chú ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Thông qua đó, chủ thể có thể học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, tiếp thu, tích lũy được những kiến thức kinh nghiệm cho bản thân và hoàn thiện các kĩ năng cần thiết. Ở luận văn này, trong phạm vi dạy học, chúng tôi sử dụng "trải nghiệm" theo quan niệm: Những HĐ HS tác động với các sự vật sự việc trong quá trình HT, qua đó HS hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ. Trải nghiệm có các đặc điểm sau: Trực tiếp tạo ra sản phẩm; Tạo cảm xúc; Gắn với cuộc sống hàng ngày của người học. Theo [24], hiệp hội “Giáo dục trải nghiệm” quốc tế định nghĩa về học qua trải nghiệm “là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia các trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển các năng lực bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội”.
Trên cơ sở đó, tham khảo một số công trình liên quan đến HĐTN, trong phạm vi DH, chúng tôi hiểu “HĐTN là một loại HĐ giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của GV, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các HĐ thực tiễn ở những mức độ khác nhau trong nhà trường cũng như ngoài cuộc sống gia đình và xã hội. HS với tư cách là chủ thể của HĐ HT, qua đó các em thu được kiến thức và kỹ năng, phát triển năng lực thực tiễn, hình thành phẩm chất nhân cách của cá nhân mình”. Từ đó chúng ta có thể thấy HĐTN có điểm khác với HĐ ngoài giờ lên lớp - theo chương trình giáo dục hiện nay. Nếu như HĐ ngoài giờ lên lớp gắn liền với nội dung chương trình từng môn học cụ thể thì HĐTN được xem như một hình thức HĐ giáo dục, mà thông qua đó, ở từng môn học, HS thực hiện quá trình HT nhưng cũng đồng thời đạt được những mục tiêu giáo dục khác, đặc biệt là NL thực hiện HĐ thực hành vận dụng vào thực tiễn.
Vị trí, vai trò của hoạt động trải nghiệm a) Đối với quá trình dạy học Dạy học thông qua trải nghiệm là một PP có nhiều ưu điểm và kích thích được các tiềm năng trí tuệ của trẻ. PPDH trải nghiệm được sử dụng trong nhiều mô hình ngoài mô hình giáo dục truyền thống như: mô hình giáo dục của Shichida Makoto (Nhật Bản), Glenn Doman (Mỹ), Phùng Đức Toàn (Trung Quốc), PP giáo dục Montessori. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c b) Đối với yêu cầu về phẩm chất và NL chung trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (mới ban hành 12/20018), [2]: "HĐTN sáng tạo là HĐ giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới. HĐ này giúp cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành NL thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân".
Ngoài ra HĐTN một cách sáng tạo còn có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các NL đặc thù sau: + NL HĐ và tổ chức HĐ; + NL tổ chức và quản lý cuộc sống; + NL tự nhận thức và tích cực hóa bản thân; + NL định hướng nghề nghiệp; + NL khám phá và sáng tạo.