Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế tiến trình DH GQVĐ trong dạy học vật lí để phát huy tính tích cực học tập của HS. Vận dụng DH GQVĐ theo hƣớng phát huy tính tích cực học tập cho HS khi DH một số bài trong chƣơng “. Thực nghiệm sƣ phạm.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CHO HỌC SINH. Tính tích cực học tập Luật giáo dục Việt Nam đã xác định phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ( điều 24. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy học là hƣớng tới hoạt động học tập chủ động, tích cực, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh. Tính tích cực Theo từ điển Tiếng Việt [ Viện ngôn ngữ học, 1999], tích cực nghĩa là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển.
Ngƣời tích cực là ngƣời tạo ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hƣớng phát triển. Tích cực là một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển [ Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Anh] Tính tích cực ( TTC) là một phẩm chất vốn có của con ngƣời trong đời sống và xã hội. Để tồn tại và phát triển con ngƣời luôn tìm tòi, khám phá cải biến môi trƣờng để phục vụ cho con ngƣời. Tuy vậy tính tích cực có mặt tự phát và tự giác.
Theo Thái Duy Tuyên, mặt tự phát của của TTC là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ linh hoạt trong đời sống hàng ngày. Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý TTC có mục đích và đối tƣợng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tƣợng đó. Tính tích cực thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tƣ duy, trí tò mò khoa học. Nhờ TTC tự giác, có ý thức, con ngƣời có thể đạt đƣợc nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với TTC tự phát.
Vì vậy hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con ngƣời năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Các cấp độ của tính tích cực [ 31] G. Sukina đã chia tính tích cực ra làm ba cấp độ. + Tính tích cực, bắt chước, tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài ( yêu cầu của Giáo Viên), nhằm chuyển đối tƣợng từ ngoài vào trong theo cơ 5 chế “ hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”.
Nhờ đó, kinh nghiệm hoạt động đƣợc tích lũy thông qua kinh nghiệm của ngƣời khác. Tái hiện bắt chƣớc là TTC ở mức độ thấp. Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ kiện là Học Sinh không thể làm đƣợc. Nhƣng nó lại là tiền đề cơ bản giúp các em nắm đƣợc nội dung bài giảng để có điều kiện nâng TTC lên mức cao hơn.
+ Tính tích cực tìm tòi: Xuất hiện cùng với quá trình hình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phƣơng pháp hành động trên cơ sở có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú, ý chí của HS. Loại này xuất hiện không chỉ do nhu cầu của GV mà còn hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức. Nó tồn tại không chỉ ở dạng trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động. Ở mức độ này, tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép HS tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phƣơng tiện thực hiện.
Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức đã học theo nhiều hƣớng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trƣớc đó. Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ. Đó là sự độc lập trong tƣ duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phƣơng hƣớng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại, đánh giá kết quả đạt đƣợc. Đây cũng là tiền đề cơ bản của tính tích cực sáng tạo.
+ Tính tích cực sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phƣơng thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân. Đây là mức độ biểu hiện TTC cao nhất. HS có TTC sáng tạo sẽ xó thể tìm đƣợc các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của ngƣời khác, thực hiện tót các yêu cầu của GV đƣa ra và có tính sáng tạo trong phƣơng pháp. Ở mức này, HS đã có khả năng tƣ duy phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tƣơng tự,.
để tìm tòi phát hiện kiến thức mới. Các đặc điểm của tính tích cực của học sinh [30, tr 270] Tính tích cực nhận thức của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác: Mặt tự phát của tính tích cực nhận thức là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻ đều có trong các mức độ khác nhau. Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý mà tính tích cực có mục đích và đối tƣợng rõ rệt. Do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tƣợng đó, thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tƣ duy, trí tò mò khoa học.
6 TTC nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lƣu văn hóa. Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tƣ duy của cá nhân đƣợc tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng. Dạy học tích cực có thể xem là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nhà trƣờng hiện đại và có thể lấy đó phân biệt với nhà trƣờng truyền thống 1. Tính tích cực học tập Tính tích cực của con ngƣời biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể.
Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Thông qua quá trình học tập, con ngƣời nhận thức đƣợc, lĩnh hội đƣợc những tri thức loài ngƣời đã tích lũy đƣợc, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm những tri thức mới cho khoa học. Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong trong qua trình chiếm lĩnh kiến thức. Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài ngƣời chƣa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài ngƣời đã tích lũy đƣợc.
Tuy nhiên, trong học tập, học sinh cũng phải có bƣớc khám phá ra những hiểu biết mới đối với bản thân. Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm đƣợc qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Đó là chƣa nói, lên tới một trình độ nhất định, sự tích cực học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và ngƣời học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phƣơng tiện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng,.
và đƣợc thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng, phong phú.Tính tích cực bên ngoài và tính tích cực bên trong Trong quá trình học tập của học sinh việc thực hiện các nội quy, các yêu cầu của giáo viên, các thao tác, các hành vi bên ngoài có thể kiểm soát đƣợc là biểu hiện của tính tích cực bên ngoài. Mặt khác do bản thân học sinh có động cơ, mục đích học tập, khi tiếp thu các tác động bên ngoài đã biến thành nhu cầu nhận thức tích cực, đào sâu suy nghĩ một cách tự giác, độc lập, đó là tính tích cực bên trong. 7 Tính tích cực bên trong không thể kiểm soát trực tiếp đƣợc, nhƣng có thể kiểm soát thông qua những biểu hiện của tính tích cực bên ngoài. Tính tích cực bên ngoài là cần thiết nhƣng tính tích cực bên trong là yếu tố quyết định tới sự phát triển của mỗi cá thể.
Biểu hiện của tính tích cực học tập Để phát hiện xem học sinh có tích cực hay không, ta dựa vào các dấu hiệu sau: + Học sinh có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? + Có hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao không? + Có ghi nhớ tốt những điều đã học không? + Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không? + Có vận dụng đƣợc những kiến thức đã học vào thực tiễn không? + Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không? + Thực hiện yêu cầu của thày giáo tối thiểu hay tối đa? + Tích cực nhất thời hay thƣờng xuyên liên tục? + Tốc độ học tập có nhanh không? + Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học? + Có quyết tâm, có ý chí vƣợt khó khăn trong học tập không ? + Có sáng tạo trong học tập không ? Trong hoạt động học tập nói chung, trong hoạt động học Vật lí nói riêng, tính tích cực của HS thƣờng thể hiện ở: + Hoạt động trí tuệ: tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho đƣợc lời giải hay của một bài toán khó. + Hoạt động chân tay: say sƣa lắp ráp tiến hành và quan sát thí nghiệm. Hai hình thức biểu hiện này thƣờng đi kèm nhau, tuy có lúc biểu hiện riêng lẻ với những dấu hiệu thƣờng thấy nhƣ sau: HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn và thích đƣợc phát biểu ý kiến của mình trƣớc vấn đề nêu ra; hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề trình bày chƣa rõ; chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã có để nhận thức các vấn đề mới; mong muốn đƣợc đóng góp với thầy, với bạn những 8 thông tin mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vƣợt ra ngoài phạm vi bài học [30, tr 271 - 272]. Những yếu tố ảnh hƣởng đến tính tích cực.