Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề dạy học môn TN & XH lớp Ba bằng hoạt động trải nghiệm. - Chương 2: Thực trạng dạy học môn TN & XH lớp Ba bằng hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu học Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Thiết kế và thử nghiệm một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn TN & XH lớp Ba. Phần Kết luận gồm những kết quả đạt được, những khuyến nghị và hướng phát triển của đề tài.
Phần Tài liệu tham khảo: thống kê tài liệu tham khảo được sử dụng trong quá trình tiến hành luận văn. Phần Phụ lục: phiếu khảo sát, phiếu kiểm tra, phiếu câu hỏi phỏng vấn GV, kiểm định T-Test, một số hình ảnh của quá trình thử nghiệm sản phẩm, kế hoạch dạy học đã thử nghiệm, kế hoạch dạy học chưa thử nghiệm. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP BA BẰNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học môn Tự nhiên và Xã hội bằng hoạt động trải nghiệm 1.
Nghiên cứu về học tập dựa vào trải nghiệm trên thế giới Lev Vygotsky – nhà tâm lí học người Nga (1896 – 1934) đã đề cập trong một nghiên cứu của mình lí thuyết về “vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development). Lí thuyết này được đúc kết thông qua nghiên cứu việc trẻ em giải quyết như thế nào những vấn đề chúng gặp mà những vấn đề đó nằm ngoài mức độ phát triển của chúng. Theo tác giả, “vùng phát triển gần” được hiểu là khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềm tàng và trình độ phát triển hiện tại. Hay nói cách khác, đó là khu vực kinh nghiệm mà cá nhân giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ từ bên ngoài đến giải quyết vấn đề độc lập (Đặng Thành Hưng, 2012).
Nội dung của “vùng phát triển gần” chính là những giá trị và kinh nghiệm thường trực ở mỗi cá nhân. Tiềm năng của mỗi cá nhân được quy định một cách tương đối dựa vào mức trải nghiệm và di truyền. Khi tiếp xúc với môi trường qua giao tiếp, học tập, làm việc,. những tiềm năng này được huy động từ vốn kinh nghiệm sẵn có để thực hiện một cách tập trung vào nhiệm vụ cụ thể, có chia sẻ, thử thách,.
dẫn đến vốn kinh nghiệm này được cải thiện, phát triển ở mức cao hơn mà đặc trưng là năng lực giải quyết vấn đề độc lập. Theo một chu kỳ, trình độ này lại trở thành kinh nghiệm sẵn có, làm nền tảng trong hiện tại, qua thử thách, điều chỉnh rồi lại làm giàu kinh nghiệm đó ở mức phát triển cao hơn. Cứ như thế, vốn kinh nghiệm cá nhân lại phát triển hơn ở chu kỳ sau đó. Công trình nghiên cứu Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938), John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học Hoa Kỳ, “nhà lí luận giáo dục có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX”, đã làm rõ ý nghĩa của kinh nghiệm 8 cá nhân và mối quan hệ giữa vốn kinh nghiệm của người học với hoạt động dạy học.
John Dewey (1859–1952), một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của Hoa Kỳ thế kỷ 20, là người đặt nền móng cho nền giáo dục hiện đại của Hoa Kỳ. Năm 1896, John Dewey bắt đầu ý tưởng về giáo dục dựa trên kinh nghiệm (experiential education). Ông cho rằng mỗi đứa trẻ, mỗi người học với học tập, chính là học qua trải nghiệm, thông qua nguyên lí giáo dục: “Nếu bạn nói, tôi sẽ quên. Nếu bạn chỉ dẫn, tôi sẽ nhớ một nửa.
Và nếu bạn để tôi làm, tôi sẽ không thể quên”. Dewey cho rằng học tập là quá trình các đặc tính, năng lực cá nhân phát triển một cách tự nhiên khi tương tác với cuộc sống. Đặc biệt, ở giai đoạn tiểu học, đứa trẻ sẽ huy động tối đa các năng lực trí tuệ và thể chất để khám phá thế giới xung quanh. Do đó, việc nhà trường áp đặt trẻ bằng các chương trình và sách giáo khoa sẽ làm hủy hoại trí tuệ của chúng.
Theo ông, giáo dục là quá trình tích lũy dần những kinh nghiệm, trải nghiệm và tái thiết lập chúng để làm chúng trở nên sâu sắc. Đồng thời, hoạt động trò chơi, hoạt động lao động là hình thức học tập phù hợp với trẻ. Bởi lẽ, nó phù hợp với đặc điểm tâm lí của trẻ hơn so với cách thức giáo dục truyền thống – cung cấp cho trẻ những tri thức thuần túy từ bên ngoài mà không quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức của trẻ (Dewey, J. Mặt khác, đề cập đến kinh nghiệm trong giáo dục, Dewey chỉ ra hai đặc tính cơ bản của nó là tính liên tục và tính tương tác (continuity and interaction).
Ở tính liên tục, ông cho rằng kinh nghiệm này sẽ ảnh hưởng và hình thành những kinh nghiệm tiếp theo. Do vậy, GV phải biết sử dụng vốn kinh nghiệm của mình để dẫn dắt, định hướng cho những kinh nghiệm còn non nớt của người học. Người dạy sẽ tạo ra được sự giáo dục dựa trên kinh nghiệm sống động (living experience) khi họ nắm bắt được những gì đang và sẽ diễn ra trong suy nghĩ của người học. Còn đối với tính tương tác, Dewey nói rằng kinh nghiệm thực sự chỉ 9 tồn tại trong hoàn cảnh khách quan (nội tại người học và môi trường).
Từ những phân tích trên, Dewey đặt ra 2 yêu cầu khi lựa chọn kinh nghiệm dạy cho người học: một là, kinh nghiệm phải mang tính mới nhưng vẫn nằm trong khả năng có thể đạt được của người học; hai là, kinh nghiệm cần dạy phải thúc đẩy người học chủ động tìm kiếm thêm kiến thức để đưa ra những ý tưởng sáng tạo (Dewey, J. Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 – 1947), chuyên gia về lĩnh vực hành vi tổ chức, động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứu hành động, đã thể hiện mối quan tâm chính là sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn. Qua nghiên cứu, Lewin cho thấy, khi xuất hiện một cuộc xung đột biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc giải quyết nhiệm vụ học tập thì kết quả học tập sẽ đạt được tối đa. Đồng thời, Lewin cũng đưa ra công trình nghiên cứu đề cập đến việc học tập dựa vào trải nghiệm – công trình “T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm”.
Trong đó, tác giả đánh giá cao vai trò của kinh nghiệm cá nhân đối với học tập dựa vào trải nghiệm. Kurt Lewin đưa ra mô hình (Hình 1) học tập dựa vào trải nghiệm với 4 giai đoạn: Reflect (suy nghĩ về tình huống học tập), Plan (lập kế hoạch giải quyết tình huống học tập), Act (thực hiện kế hoạch), Observe (quan sát những kết quả đạt được). Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kurt Lewin 10 Năm 1960, Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lí học phát triển người Thụy Sỹ, đã thực hiện một nghiên cứu về kinh nghiệm và kiến thức của con người. Ông cho rằng trí thông minh của một cá nhân được định hình bởi kinh nghiệm của chính người đó.
Đồng thời, trí thông minh đó là sản phẩm của quá trình tương tác giữa con người với môi trường sống xung quanh của chính họ chứ nó không phải là đặc tính bẩm sinh (Đặng Thành Hưng, 2012). Năm 1984, kế thừa những nghiên cứu về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm của Dewey, Lewin, Piaget, Lev Vygotsky,. David Kolb chính thức đưa ra lí thuyết về học tập dựa vào trải nghiệm, cung cấp mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để ứng dụng trong trường học, tổ chức kinh tế hay bất cứ nơi nào con người được tập hợp với nhau. Trong công trình này, ông cũng xác định đặc điểm của học tập dựa vào trải nghiệm và các giai đoạn trong học tập dựa vào trải nghiệm.
Đối với Kolb, khái niệm học tập được hiểu như quá trình chuyển đổi kinh nghiệm của chính người học để tạo ra kiến thức. Trong suốt quá trình đó, người học không phải chỉ tiếp thu kiến thức từ phía GV truyền đạt, mà còn tạo ra kiến thức bằng cách kiểm nghiệm những kinh nghiệm sẵn có của bản thân trong môi trường học tập thực tiễn để điều chỉnh nó cho đúng. Kolb đã đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm bao gồm bốn giai đoạn: trong môi trường học tập cụ thể, người học bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể sẵn có (Concrete experience) sẽ quan sát, suy nghĩ và đưa ra những phản hồi (Observation and reflection) về tình huống học tập trong môi trường đó. Qua đó, họ rút ra những khái niệm, kiến thức trừu tượng (Forming abstract concepts) rồi vận dụng, thử nghiệm nó trong giải quyết những tình huống mới (Testing in new situations) trong học tập hay cuộc sống (Kolb, D.
Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb Cũng trong công trình này, Kolb nhấn mạnh rằng kiến thức sẽ liên tục được hình thành thông qua kinh nghiệm cá nhân và môi trường. Đồng thời, để có được kiến thức thực sự từ kinh nghiệm, người học phải hội đủ bốn yếu tố: Một là, người học phải sẵn sàng, tích cực tham gia vào tình huống, huy động kinh nghiệm vốn có; hai là, người học phải có khả năng suy nghĩ về kinh nghiệm; ba là, người học phải sử dụng các kĩ năng phân tích để khái niệm hóa kinh nghiệm; bốn là, người học phải có kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề để sử dụng những ý tưởng mới thu được từ kinh nghiệm. Sau khi công trình Study experience: Experience is the source of Learning and Development của Kolb, D. ra đời, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm trong lĩnh vực giáo dục xuất hiện, có thể kể đến như: Năm 1999, Itin C.
với nghiên cứu Reasserting the philosophy of experiential education as a vehicle for change in the 21st century (Tái khẳng định triết lí giáo dục trải nghiệm như một phương tiện để thay đổi trong thế kỷ 12 21) đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục trải nghiệm trong thời điểm hiện nay – thế kỉ 21. Theo Itin, giáo dục trải nghiệm không chỉ là học tập dựa vào trải nghiệm, mà nó còn là triết lí giáo dục liên quan đến sự tương tác giữa người học và GV. Đồng thời, nó còn đóng vai trò quan trọng trong cải cách giáo dục (Itin C. Năm 2002, The power of experiential learning: a handbook for trainers and educators (Sức mạnh của việc học tập dựa trên trải nghiệm: sổ tay dành cho giảng viên và nhà giáo dục) của Beard, C.
cũng đã đề cập đến việc học tập dựa vào trải nghiệm qua sử dụng các hoạt động ngoài trời hoặc trong môi trường kín.