CHƯƠNG 1: CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan những vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực hợp tác 1. Trên thế giới Dạy học phát triển NL hợp tác được hình thành từ rất sớm trong xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những cách tìm hiểu khác nhau về loại NL hợp tác. Vào đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian đã chỉ ra nếu người học sẽ rất có lợi nếu biết chia sẻ những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu. John Amos Comenius (1592- 1670) cho rằng HS sẽ học tập tốt từ việc góp ý cho bạn bè và học từ các bạn bè của mình. Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác đã được thực hiện khá phổ biến ở các nước tư bản.
Thời kỳ này ở Anh có Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi việc học tập hợp tác nhóm; ở Mỹ (thế kỷ XIX) điển hình có Fancis Parker (bang Massachusetts) đã cho rằng học tập hợp tác là quá trình học tập được thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp với cả tình cảm và trí tuệ thì việc học sẽ không bao giờ bị nhàm chán; niềm vui lớn nhất của HS là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn trong tương tác học tập với tinh thần giúp đỡ lẫn nhau [29]. Vào đầu thế kỷ XX, J. Dewey đã nói về khía cạnh xã hội của việc học tập thì đưa ra ý kiến muốn học cách cùng chung sống mọi người trong xã hội thì chắc chắn người học phải tham gia trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác. Cho nên hoạt động trong lớp học là một quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [32].
Năm 1994, nhà giáo dục Ấn Độ Raja Roy Singh đã đề cao vai trò của mô hình dạy học hợp tác khi cho rằng vấn đề cần tập trung hơn cả về giáo dục con 5 skkn người cho thế kỷ XXI là hình thành cho họ NL sáng tạo, có KN hợp tác chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng [22]. Nhận thức được vai trò của hợp tác trong dạy học, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục, các nhà nghiên cứu được tiến hành nhằm bắt đầu xây dựng lí thuyết về hợp tác và phương pháp dạy học hợp tác dựa trên ý tưởng học tập này. Nhà nghiên cứu Karl Rogers vào những năm 1960 cũng đã nghiên cứu và đưa ra ứng dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ. Ông cho rằng trong quá trình dạy học cần hình thành cho người học một số NL nhận thức, KN học hợp tác.
Đặc biệt trong quá trình ứng dụng và xử lý thông tin thì người học cần có cá KN [Dẫn theo 20. Những công trình của các nhà khoa học như Devries.K đã dạy học hợp tác nhóm trên cơ sở ứng dụng hợp tác trong dạy học. Coleman dựa trên lý thuyết đã đưa ra một phương pháp học tập hợp tác, W. Glasser đã chỉ ra mối quan hệ hợp tác giữa HS với nhau trong quá trình học tập[29].
Trong những năm gần đây, NL hợp tác đã được nghiên cứu nhiều dưới các tên khác như NL làm việc nhóm, NL quan hệ với người khác. trong các chương trình giáo dục phổ thông của các nước trên thế giới. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, hợp tác trong học tập được hình thành từ rất lâu đời, đây cũng là điều phù hợp chung cho con người Việt Nam. Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam ông cha ta đã nói “Ngựa bay có đàn chim bay có bạn” hay “Học thầy không tày học bạn” với ý nghĩa nhấn mạnh vai trò của tinh thần hợp tác trong công việc cũng như trong học tập.
Trong thời kỳ bảo vệ và xây dựng đất nước, định hướng học tập hợp tác cũng được biểu hiện qua các nhóm học tập như nhóm tự quản, đôi bạn cùng tiến, 6 skkn sinh hoạt câu lạc bộ.tuy nhiên do chưa có cơ sở vững chắc và phương pháp chưa phù hợp nên chưa để lại những dấu ấn trong nền giáo dục. Trước sư phát triển mạnh mẽ của thông tin và xu thế hội nhập.Các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã xây dựng một hệ thống lí luận và phương pháp về hợp tác và dạy học hợp tác. Đặc biệt có một số tác giả như: Tác giả Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại- lý luận, biện pháp, kỹ thuật” đã chỉ ra nguyên tắc, cách thức tổ chức, vai trò của dạy học hợp tác, [10]. Tác giả Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” (2006) đã chỉ ra rằng dạy học hợp tác vừa phát huy được đặc điểm của mỗi cá nhân vừa phát triển tình bạn, cùng giúp nhau tiến bộ [7].
Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trong các bài viết trên các tạp chí và tài liệu tập huấn cho GV các trường THPT coi dạy học hợp tác là một quan điểm dạy học. Tác giả đã nêu ra những bước tiến hành tổ chức học theo nhóm, những cơ sở để làm việc theo nhóm có hiệu quả và những hình thức ghép nhóm ở trong dạy học hợp tác theo nhóm [6]. Một số luận án, luận văn của các tác giả Hoàng Lê Minh (2007), Phan Văn Tỵ (2009), Phạm Thị Ngọc Huyền (2009), Lê Thị Nguyệt Quế (2011), Phạm Huyền Phương (2014). [15] [27] [12] [21] đã đi theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách ứng dụng kỹ thuật dạy học Ngoài ra cũng có rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến các vấn đề khác nhau của dạy học hợp tác, như: “Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại” của tác giả Đặng Thành Hưng (2004) [10], “Một số trao đổi về học hợp tác ở trường phổ thông” của tác giả Trần Thị Bích Trà (2006) [24] trên Tạp chí Giáo dục; “Về dùng phương pháp học tập theo nhóm nhỏ” của tác giả Đoàn Thị Thanh Phương (2004) [19]; “ Sử dụng dạy học theo dự án trong dạy hoc phần giáo dục môi trường cho trẻ mầm non nhằm phát triển cho năng lực sinh viên nghành giáo dục mầm non” của tác giả Nguyễn Thị Luyến - năm 2017” , “ 7 skkn Vận dụng dạy học theo góc trong dạy học phần môi trường và con người ở khoa mầm non, trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An’’của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2018) Tóm lại, dạy học hợp tác là một vấn đề đã được quan tâm trong trong dạy học hiện nay.
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học hợp tác đã hình thành một cách hệ thống, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các GV áp dụng phương pháp này vào dạy học đạt hiệu quả. Tuy nhiên, một khía cạnh khác của dạy học hợp tác là thông qua phương pháp dạy học này để rèn luyện cho HS NL hợp tác, cũng như xây dựng quy trình, bộ công cụ rèn luyện NL hợp tác và tiêu chí đánh giá NL trong dạy học bộ môn Sinh học, đặc biệt là trong quá trình dạy học Sinh học 12 THPT chưa được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Đó cũng chính là vấn đề quan tâm của chúng tôi trong đề tài này. Tổng quan các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm 1.1 Trên thế giới Học tập trải nghiệm đó là một quá trình học tập đã phát triển theo thời gian, từ các nhà triết học như Socrates (384-322TCN), PlaTon (437-347 TNC), Aristotle (450-325 TCN) và phát triển cho đến ngày hôm nay với các học giả như Dewey, Lewin, Pitget và Kolb.
Người được cho là khởi xướng về học tập trải nghiệm với việc gắn liền hoạt động học tập với thiên nhiên là Aristotle [35]. Tuy nhiên chủ nghĩa kinh nghiệm còn nhấn mạnh rằng vai trò của trải nghiệm và cho rằng tri thức của con người là nền móng của trải nghiệm[34]. Theo Lênin (1870 -1924) [1] đã đưa ra quan điểm về quá trình nhận thức của loài người đó là hiện thực khách quan, nhận thức chân lí đều xuất phát từ thực tiễn. Vào cuối thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa thực dụng ra đời có nhiều đóng góp lớn đối với triết học Mỹ như Charles Saders Peirce, John Dewey.
8 skkn Với mô hình nghiên cứu hành động và huấn luyện thực nghiệm tác giả Kurt Lewin (1890-1947) nhấn mạnh rằng kinh nghiệm là 1 khía cạnh của người học. Lean Piaget (1896 - 1980) đã nghiên cứu về quá trình phát triển nhận thức và bản chất của trí tuệ. Piaget gợi ý rằng trí thông minh được hình thành và phát triển trong quá trình trải nghiệm, trong đó sự tương tác với môi trường đóng một vai trò quan trọng. Trí tuệ phát triển theo từng cấp độ, từng lứa tuổi [33].Kolb vào năm 1984 cho rằng học tập là quá trình tạo ra tri thức thông qua sự chuyển đổi kinh nghiệm diễn ra theo 1 chu trình gồm 4 pha: pha trải nghiệm cụ thể, pha quan sát phản ánh, pha trừu tượng hóa khái niệm, pha thử nghiệm tích cực[33].
Theo Svinivki & McKeachie(2011) đã đưa ra quan điểm học tập kinh nghiệm thì cho cảm giác trực tiếp còn hành động trong bối cảnh là nguồn chính của việc học tập, những chương trình giáo dục như thực tập, dự án, bài tập kinh nghiệm đã giúp cho người học tiếp cận kinh nghiệm[36]. Theo nghiên cứu của Đại học California Davis (University of California Davis), hoạt động học tập trải nghiệm gồm năm pha: khám phá, chia sẻ , xử lý, tổng hợp và áp dụng. Điều này đòi hỏi học sinh thực hiện một hoạt động hoặc nhiệm vụ, chia sẻ kết quả và quan sát, thảo luận sau đó phản ánh về quá trình, kết nối nó với các ví dụ thế giới thực và áp dụng nó vào tình huống khác [37].1 Ở Việt Nam Ở Việt Nam phương pháp dạy học theo hướng trải nghiệm đã được đề cập vào những năm 1960, nội dung dạy học theo hướng tích cực. Nổi bật nhất giai đoạn này là công trình “phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”[13] của Nguyễn Kỳ(1995), “phương pháp tích cực” [8] của Trần Bá Hoành(1996), “những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại”[26] của Thái Duy Tuyên (1998).
Phương pháp dạy học tích cực đã được đưa vào tài liệu bồi dưỡng đổi mới PPDH dành cho GV ở trường phổ thông.