Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Phương pháp dạy học Vật lí của tác giả Lê Huyền Thương (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019) được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Anh Dũng. Đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh nghiệm quốc tế về việc triển khai giáo dục STEM nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, bối cảnh thực tiễn được tác giả khai thác là sự cạn kiệt nguồn năng lượng hóa thạch cùng tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do rác thải pin phế thải sinh hoạt gây ra, từ đó đặt ra nhu cầu nghiên cứu nguồn điện từ nguyên liệu tự nhiên và các ứng dụng kỹ thuật liên quan.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục STEM trong dạy học phổ thông.
  2. Thiết kế hoạt động STEM với thử thách làm nam châm điện từ nguồn pin điện hóa thuộc chương trình Vật lý 11.
  3. Xây dựng hệ thống công cụ đánh giá, bao gồm các phiếu đánh giá và rubric đánh giá năng lực của học sinh.
  4. Dự kiến kết quả và tiến trình thực nghiệm sư phạm tại trường trung học phổ thông.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm:

  1. Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về giáo dục STEM.
  2. Nghiên cứu phương pháp dạy học môn Vật lý theo định hướng giáo dục STEM.
  3. Xây dựng phương án dự kiến thực nghiệm sư phạm.

Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Thiết kế hoạt động dạy học môn Vật lý 11 theo định hướng giáo dục STEM và rubric đánh giá năng lực của học sinh như thế nào để vừa đánh giá đúng mức độ nhận thức kiến thức cơ bản cùng kiến thức liên môn, vừa tạo điều kiện cho học sinh làm quen với phương pháp học tập mới? Giả thuyết nghiên cứu cho rằng nếu thiết kế được tiến trình hoạt động cùng rubric phù hợp sẽ đánh giá chuẩn xác mức độ đạt mục tiêu học tập, năng lực STEM, đồng thời thúc đẩy tính tích cực, chủ động của người học.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cách thức thiết kế hoạt động dạy học theo định hướng STEM thông qua chương trình Vật lý lớp 11. Khách thể nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản gồm các kiến thức thuộc Chương II (Dòng điện không đổi) và Chương IV (Từ trường). Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong phạm vi kiến thức Chương trình Vật lý 11 cơ bản, hướng tới đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 11 (độ tuổi 17, mức độ tiếp thu khá).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm, mô hình và quan điểm dạy học tích hợp:

  • Khái niệm và bản chất giáo dục STEM: Tiếp cận liên môn tích hợp giữa bốn lĩnh vực Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Maths) nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.
  • Tiêu chí và phân loại chủ đề STEM: Chủ đề STEM được xác định qua 4 tiêu chí cốt lõi gồm: kiến thức thuộc lĩnh vực STEM, giải quyết vấn đề thực tiễn, định hướng hoạt động - thực hành, và làm việc nhóm. Khóa luận phân loại chủ đề theo 3 căn cứ: theo lĩnh vực tham gia (đầy đủ hoặc khuyết), theo phạm vi kiến thức (cơ bản hoặc mở rộng), và theo mục đích dạy học (dạy học kiến thức mới hoặc dạy học vận dụng).
  • Khung tiến trình tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM: Cấu trúc hóa thành tiến trình sư phạm 6 pha:
Pha hoạt động Tên pha Nội dung hoạt động chính
Pha 1 Đặt vấn đề STEM và chuyển giao nhiệm vụ Tạo tình huống có vấn đề gắn với thực tiễn, làm nảy sinh nhiệm vụ học tập.
Pha 2 Đề xuất phương án thiết kế sản phẩm Phác thảo bản vẽ thiết kế, thuyết trình, thảo luận phản biện và thống nhất bản vẽ tối ưu.
Pha 3 Gia công, chế tạo theo bản vẽ Nhận dụng cụ, vật liệu; phân công nhóm gia công chi tiết và lắp ráp sản phẩm.
Pha 4 Vận hành, thử nghiệm sản phẩm Vận hành kiểm tra; nếu không đạt yêu cầu phải quay lại Pha 2 để hiệu chỉnh thiết kế.
Pha 5 Thực hiện báo cáo sản phẩm Thuyết trình quá trình chế tạo, xử lý khó khăn, vận hành minh họa và đánh giá chéo.
Pha 6 Đánh giá, nhận xét chung Giáo viên tổng kết hoạt động, nhận xét và đánh giá kết quả làm việc của các nhóm.
  • Quy trình thiết kế kỹ thuật dành cho học sinh: Vận dụng mô hình 8 bước gồm: (1) Tìm hiểu thực tiễn, xác định vấn đề; (2) Nghiên cứu kiến thức nền; (3) Động não tìm giải pháp; (4) Lựa chọn giải pháp khả thi; (5) Thiết kế - chế tạo mẫu thử nghiệm; (6) Thử nghiệm mẫu thiết kế; (7) Báo cáo và thảo luận kết quả; (8) Đánh giá và thiết kế lại.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp nghiên cứu lý luận (thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu về giáo dục STEM và chương trình vật lý phổ thông), phương pháp thiết kế sư phạm (xây dựng giáo án, phiếu học tập, công cụ kiểm tra đánh giá), và phương pháp dự kiến thực nghiệm sư phạm đối chứng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ tài liệu đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lý của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, tài liệu nghiên cứu dạy học STEM của Lê Xuân Quang (2017), số liệu việc làm của Mỹ (tạp chí Live Science, VNIS), chính sách giáo dục STEM tại Anh (Chương trình Hành động 11, mô hình 4 cấp độ của Mark Windale), và dữ liệu quan trắc rác thải môi trường của Chi cục Môi trường Hà Nội, Viện Khoa học Môi trường và Phát triển, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận

Chương này tập trung tổng quan hệ thống lý luận về giáo dục STEM và định hướng triển khai trong môn Vật lý:

  • Phân tích thế mạnh của STEM: Tích hợp kiến thức liên ngành xóa bỏ khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tế, đặt học sinh vào vai trò người sáng tạo, tự học theo quan điểm của GS. Steven Chu.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế: Tại Mỹ, thống kê giai đoạn 2004–2014 cho thấy việc làm liên quan đến khoa học và kỹ thuật tăng 26% (gấp hai lần tốc độ tăng trưởng trung bình), dự kiến giai đoạn 2010–2020 tăng 62% và đến năm 2030 máy tính có thể thay thế 60% nghề nghiệp thông thường. Tại Anh, giáo dục STEM triển khai qua Chương trình Hành động 11 với 4 nội dung (đào tạo giáo viên theo cặp/nhóm liên môn; bồi dưỡng giáo viên qua 4 cấp độ thực hành; tổ chức câu lạc bộ và ngày hội; huy động hơn 8 triệu USD từ các tập đoàn tư nhân để phát triển cơ sở vật chất).
  • Định hướng dạy học môn Vật lý mới tại Việt Nam: Phân tích 6 đặc điểm cốt lõi gồm tích hợp ở cấp cơ sở và phân hóa ở trung học phổ thông; phát triển phẩm chất, năng lực và hướng nghiệp; tinh giản tính toán hàn lâm để chú trọng bản chất vật lý; đẩy mạnh thực hành và thí nghiệm; đa dạng hóa phương pháp dạy học; xem kiểm tra đánh giá là khâu then chốt nhằm đo lường năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên.

Chương 2. Thiết kế hoạt động STEM với thử thách tạo ra nam châm điện từ pin điện hóa

Chương này trình bày toàn bộ kế hoạch dạy học chi tiết cho chủ đề thực hành thời lượng 45 phút dành cho học sinh lớp 11, bao gồm việc tích hợp kiến thức liên môn: Khoa học (Vật lý: dòng điện không đổi, từ trường, nam châm điện; Hóa học: phản ứng oxi hóa - khử, thuyết điện li, dung dịch điện phân; Sinh học: quá trình quang hợp ở thực vật), Công nghệ (bản vẽ kỹ thuật, quy trình chế tạo nguồn điện), và Kỹ thuật (thao tác lắp ráp, hàn nối, vận hành mạch đo).

Tiến trình bài học 45 phút được cấu trúc thành 3 hoạt động nối tiếp:

  • Hoạt động 1 (10 phút) - "Pin điện hóa hoạt động như thế nào?": Học sinh nghiên cứu tài liệu hướng dẫn về pin Galvani đơn giản (dung dịch axit loãng trong quả chanh bứt ion Zn²⁺ từ thanh kẽm khiến kẽm thừa electron mang điện âm, ion H⁺ nhận electron ở thanh đồng làm đồng tích điện dương, duy trì dòng điện), hoàn thành Phiếu học tập số 01 tìm hiểu cấu tạo pin và nguy cơ ô nhiễm từ pin phế thải.
  • Hoạt động 2 (15 phút) - "Thử làm pin điện hóa": Các nhóm lựa chọn nguyên vật liệu tự nhiên (chanh, khoai tây, cà chua), dây nối, điện cực để tạo nguồn điện, dùng đồng hồ vạn năng đo suất điện động, đấu nối tiếp các nguồn pin để thắp sáng đèn LED và hoàn thiện Phiếu học tập số 02.
  • Hoạt động 3 (20 phút) - "Thử thách tạo Nam châm điện từ nguồn pin điện hóa": Học sinh sử dụng đinh sắt (dài 7–10 cm), cuộn dây đồng và nguồn pin điện hóa vừa tạo để chế tạo nam châm điện; thi đua lực hút giữa các nhóm thông qua việc hút các mảnh sắt nhỏ; từ đó rút ra các yếu tố làm thay đổi cảm ứng từ của nam châm điện.

Hệ thống công cụ đánh giá được thiết kế hoàn chỉnh gồm: Phiếu tự đánh giá bản thân (6 tiêu chí, thang đo 4 mức độ từ Hiếm khi đến Thường xuyên), Phiếu đánh giá đồng đẳng giữa các thành viên nhóm (6 tiêu chí: Tổ chức và quản lý, Đóng góp ý tưởng, Hỗ trợ đồng đội, Nhiệt tình nghiêm túc, Làm việc hợp tác, Tính hiệu quả), và Rubric đánh giá năng lực học sinh gồm 4 tiêu chí:

Tiêu chí Mức 1 (1 điểm) Mức 2 (2 điểm) Mức 3 (3 điểm) Mức 4 (4 điểm)
Kỹ thuật Phác thảo được bản vẽ pin điện hóa tự tạo. Phác thảo được bản vẽ nam châm điện nhưng chọn vật dụng chưa hợp lý. Phác thảo được bản vẽ nam châm điện; lựa chọn và sử dụng vật dụng, thiết bị hợp lý. Phác thảo được bản vẽ; chọn vật dụng hợp lý; đọc bản vẽ và lắp ráp đúng phương án.
Thực hành Nam châm điện chưa hoạt động tốt; nêu nguy cơ ô nhiễm môi trường nhưng chưa có giải pháp. Nêu được nguy cơ ô nhiễm từ pin phế thải và đề xuất giải pháp; đo được suất điện động nhưng nam châm chưa hoạt động tốt. Đo được suất điện động; nam châm hoạt động tốt; nêu được nguy cơ ô nhiễm nhưng chưa đề xuất được giải pháp. Nêu được nguy cơ ô nhiễm và đề xuất biện pháp khắc phục; đo được suất điện động; nam châm điện hoạt động tốt.
Thuyết trình Tham gia thuyết trình nhưng chưa tự tin hoặc chưa phân tích được bản vẽ và sản phẩm. Thuyết trình tự tin, phân tích được bản vẽ và sản phẩm nhưng chưa chỉ ra ưu, nhược điểm. Thuyết trình tự tin, phân tích rõ sản phẩm và bản vẽ, chỉ ra được ưu và nhược điểm của nhóm. Thuyết trình tự tin, phân tích rõ ưu nhược điểm; phát hiện tính bất hợp lý trong phản biện của nhóm khác và đối đáp thuyết phục.
Làm việc nhóm Chưa có sự phân công công việc hợp lý; chưa phối hợp khi thuyết trình. Có phân công công việc nhưng chưa hợp lý; có sự phối hợp khi thuyết trình. Có phân công công việc cụ thể (thư ký, gia công, quản lý vật liệu) nhưng thiếu phối hợp khi thuyết trình. Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên; các thành viên phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình thuyết trình và chế tạo.

Chương 3. Dự kiến thực nghiệm sư phạm

Chương này vạch ra phương án thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của tiến trình dạy học đã thiết kế:

  • Mục đích và đối tượng: Đánh giá tác động của hoạt động dạy học STEM đối với tư duy sáng tạo, tinh thần làm việc nhóm và kết quả học tập của học sinh khối 11 tại trường trung học phổ thông.
  • Phương pháp tiến hành: Thiết kế phương án dạy thực nghiệm trên lớp thực nghiệm (học theo tiến trình STEM) và lớp đối chứng (học theo phương pháp truyền thống); xin ý kiến đóng góp từ các giáo viên thuộc các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Công nghệ để hoàn thiện kế hoạch bài học.
  • Nhiệm vụ theo dõi: Quan sát không khí học tập (sự hào hứng hoặc thụ động), thống kê số lượng học sinh chủ động nêu giả thuyết hoặc phản biện khoa học, đánh giá mức độ tương tác nhóm và đối chiếu thời lượng thực tế với kế hoạch 45 phút dự kiến.
  • Kịch bản tiến trình: Mô tả diễn biến thực nghiệm qua việc xử lý tình huống mâu thuẫn nhận thức về ô nhiễm pin phế thải, quá trình tự chế tạo pin điện hóa từ rau củ quả để làm sáng đèn LED, tổ chức phần thi đấu thực tế kiểm tra lực hút nam châm điện bằng số lượng mảnh sắt hút được, và quy trình các nhóm học sinh tự đánh giá, xếp loại lẫn nhau.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu và phương án sư phạm hoàn chỉnh:

  • Thiết lập kế hoạch bài dạy thực nghiệm chi tiết cho chủ đề STEM thời lượng 45 phút, giải quyết được đồng thời hai nội dung vật lý quan trọng là nguồn điện hóa học và từ trường của dòng điện chạy trong ống dây có lõi sắt.
  • Tích hợp số liệu thực tế về môi trường vào giáo án nhằm nâng cao ý thức xã hội cho học sinh: bình quân mỗi hộ gia đình tại Hà Nội sử dụng từ 10–15 thiết bị dùng pin; mỗi ngày thành phố phát sinh hơn 5.400 tấn rác sinh hoạt và hơn 100 tấn rác nguy hại (chỉ thu gom xử lý đúng quy chuẩn được 60–65 tấn/ngày); 1 viên pin chôn lấp có nguy cơ gây ô nhiễm 500 lít nước hoặc 1 m³ đất trong vòng 50 năm.
  • Xây dựng hệ thống công cụ đo lường sư phạm đồng bộ gồm 2 phiếu học tập hình thành kiến thức, 2 biểu mẫu đánh giá thái độ làm việc nhóm và 1 bảng rubric định lượng năng lực học sinh qua 4 bậc điểm.
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Cụ thể hóa định hướng giáo dục STEM vào nội dung chuyên môn của môn Vật lý 11; cung cấp quy trình thiết kế kỹ thuật 8 bước gắn liền với chế tạo thực nghiệm cụ thể (dùng chanh, khoai tây, đinh sắt, cuộn dây đồng) thay vì các bài tập tính toán thuần túy lý thuyết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có hạn chế rõ ràng được ghi nhận ngay từ cấu trúc văn bản: đề tài mới dừng lại ở mức độ "Dự kiến thực nghiệm sư phạm" (Chương 3) mà chưa được tổ chức dạy học thực tế trên lớp học trung học phổ thông để thu thập số liệu thống kê định lượng (như điểm số bài kiểm tra, kiểm định t-test giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm). Bản thân tác giả cũng khẳng định trong phần lời cảm ơn rằng công trình còn những hạn chế do kinh nghiệm thực tiễn và trình độ lý luận.

Hướng phát triển tiếp theo của nghiên cứu được xác định dựa trên phạm vi đề tài:

  • Triển khai tiến trình dạy học đã thiết kế vào thực tế các lớp học lớp 11 để kiểm định mức độ tương thích về thời gian và độ bền của thiết bị tự chế.
  • Thu thập số liệu thống kê thực nghiệm sư phạm đầy đủ để kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu bằng các phương pháp toán học thống kê.
  • Lấy ý kiến đánh giá trực tiếp từ hội đồng giáo viên liên môn (Toán, Hóa học, Sinh học, Công nghệ) để hoàn thiện hơn nữa tính tích hợp của bài học.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Vật lý và Sư phạm Khoa học tự nhiên trong việc học tập phương pháp thiết kế một kế hoạch bài dạy theo định hướng giáo dục STEM chuẩn mực.
  • Giáo viên Vật lý tại các trường trung học phổ thông đang thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm kiếm phương án tổ chức tiết học trải nghiệm, ứng dụng vật liệu tái chế, vật liệu tự nhiên để dạy học phần "Dòng điện không đổi" và "Từ trường".
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và giáo viên các môn khoa học tự nhiên có nhu cầu tham khảo khung rubric 4 mức độ đánh giá năng lực thực hành và kỹ năng làm việc nhóm của học sinh.

Nội dung đáng giá nhất để trích dẫn hoặc áp dụng là bảng Rubric đánh giá 4 tiêu chí tại Chương 2 và cấu trúc tiến trình 6 pha tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM được mô hình hóa trong Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận này tích hợp kiến thức của những môn học nào trong bài học thực hành?
Bài học tích hợp 5 phân môn thuộc 3 nhánh STEM: nhánh Khoa học gồm Vật lý (pin điện hóa, từ trường nam châm điện), Hóa học (sự điện li, phản ứng oxi hóa - khử hình thành cực điện), Sinh học (quá trình quang hợp tạo chất hữu cơ trong củ quả); nhánh Công nghệ gồm vẽ kỹ thuật và quy trình chế tạo; nhánh Kỹ thuật gồm các thao tác nối mạch, kiểm tra mối hàn và đo đạc thông số suất điện động.

2. Học sinh giải quyết thử thách kỹ thuật bằng quy trình mấy bước?
Học sinh tiếp cận và giải quyết nhiệm vụ chế tạo nam châm điện từ pin điện hóa thông qua quy trình thiết kế kỹ thuật gồm 8 bước: Tìm hiểu thực tiễn - xác định vấn đề; Nghiên cứu kiến thức nền; Động não tìm giải pháp; Lựa chọn giải pháp khả thi; Thiết kế - chế tạo mẫu thử nghiệm; Thử nghiệm mẫu thiết kế; Báo cáo và thảo luận kết quả; Đánh giá và thiết kế lại.

3. Tác giả sử dụng số liệu thực tế nào về ô nhiễm pin để xây dựng tình huống học tập?
Khóa luận dẫn số liệu từ Chi cục Môi trường Hà Nội và Viện Khoa học Môi trường và Phát triển: mỗi gia đình có khoảng 10–15 thiết bị dùng pin; 1 viên pin vứt bỏ có thể gây ô nhiễm 500 lít nước hoặc 1 m³ đất suốt 50 năm; toàn thành phố Hà Nội thải hơn 5.400 tấn rác sinh hoạt và hơn 100 tấn rác độc hại mỗi ngày nhưng năng lực xử lý phân loại chỉ đạt 60–65 tấn/ngày, phần còn lại bị chôn lấp hoặc đốt gây phát tán chì, thủy ngân, kẽm, niken.

4. Kế hoạch bài học được phân bổ thời gian thực hiện như thế nào?
Tổng thời lượng bài học là 45 phút, được chia làm 3 hoạt động nối tiếp: Hoạt động 1 tìm hiểu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của pin điện hóa (10 phút); Hoạt động 2 chế tạo pin điện hóa từ rau củ quả và đo suất điện động (15 phút); Hoạt động 3 chế tạo nam châm điện từ pin tự tạo và thi đấu lực hút (20 phút).

5. Đề tài đã có kết quả thực nghiệm sư phạm thực tế trên lớp học hay chưa?
Chưa. Toàn bộ nội dung ở Chương 3 mới dừng lại ở mức "Dự kiến thực nghiệm sư phạm", bao gồm việc xây dựng mục đích, phương pháp đối chứng, phiếu quan sát và kịch bản diễn biến tiết dạy chứ chưa ghi nhận số liệu định lượng hay kết quả đo đạc từ một lớp học thực tế cụ thể.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Lê Huyền Thương đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi về giáo dục STEM và mối liên hệ với đổi mới chương trình Vật lý phổ thông. Tác giả đã thiết kế trọn vẹn một hoạt động học tập 45 phút cho học sinh lớp 11 mang tính liên môn cao giữa Vật lý, Hóa học và Kỹ thuật thông qua thử thách tạo nam châm điện từ pin củ quả. Đề tài cung cấp hệ thống công cụ kiểm tra đánh giá đồng bộ và phương án thực nghiệm sư phạm rõ ràng, đóng vai trò là một tài liệu tham khảo có giá trị sư phạm thực tiễn trong công tác giảng dạy vật lý định hướng STEM.