Đặt vấn đề Nhƣ chúng ta đều biết, nƣớc đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của mỗi ngƣời. Nƣớc là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con ngƣời và các loài sinh vật sống trên Trái Đất. Nƣớc cần cho mọi sự sống và phát triển, giúp cho các tế bào sinh vật trao đổi chất, tham gia vào các phản ứng hóa sinh và tạo nên các tế bào mới. Vì vậy, có thể nói rằng ở đâu có nƣớc là ở đó có sự sống.
Trong đời sống cũng nhƣ trong sinh hoạt, nƣớc là cần thiết để sản xuất, tƣới tiêu, trồng trọt. Sau khi sử dụng, nƣớc trở thành nƣớc thải, bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau. Ngày nay, cùng với sự bùng nổ dân số và tốc độ phát triển cao của công nông nghiệp đã để lại nhiều hậu quả phức tạp, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc. Vấn đề này đang đƣợc sự quan tâm của mọi ngƣời, mọi quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn nƣớc thải sinh hoạt chƣa đƣợc xử lý và đƣợc thải thẳng ra sông, ao, hồ và các nguồn tiếp nhận. Vì vậy dẫn đến tình trạng các con sông đó bị ô nhiễm, bốc mùi khó chịu, làm mất cảnh quan và ảnh hƣởng nghiêm trọng tới sức khỏe con ngƣời. Hiện nay bảo vệ môi trƣờng không còn là nhiệm vụ của nhà nƣớc mà đó là trách nhiệm của mỗi chúng ta để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Chúng ta phải có hành động ngăn chặn và xử lý nguồn nƣớc ô nhiễm thải ra môi trƣờng.
Tính cấp thiết của đề tài Nguồn nƣớc thải phát sinh từ các nhà cầu, âu tiểu thì đƣợc xử lý qua bể tự hoại 3 ngăn, rồi cho tự thấm. Còn nƣớc thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động tắm, giặt, rửa thì sẽ chảy theo hệ thống thoát nƣớc mƣa chung. Nƣớc thải y tế từ hoạt động khám chữa bệnh, rửa dụng cụ y tế… trƣớc đây đƣợc thu gom xử lý nhƣng nay trạm xử lý không còn hoạt động, nƣớc thải y tế đƣợc thu gom vào hố thu rồi thoát ra kênh nội bộ. Đặc trƣng ô nhiễm của nƣớc thải sinh hoạt cơ sở Nhị Xuân chủ yếu là các chất hữu cơ, coliform, dầu mỡ, các chất dinh dƣỡng (N, P), các chất rắn lơ lửng., gây ra hiện tƣợng phú dƣỡng các thủy vực nƣớc ngọt, giảm cả về chất và lƣợng đối với tài nguyên nƣớc đã rất hạn chế, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng và sức khỏe.
Hiện nay cơ sở có một hệ thống xử lý nƣớc thải, tuy nhiên do xây dựng đã lâu, nay đã xuống cấp, máy móc hƣ hỏng nặng nên không còn hoạt động nữa. 16 do an Việc xả thải chƣa qua xử lý gây không ít những khó chịu đến việc sinh sống của các hộ dân, gây bốc mùi khó chịu, tác động đến nguồn nƣớc ngầm, ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng. Bên cạnh đó còn gây mất mĩ quan cho cơ sở Nhị Xuân. Để hạn chế những ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng, việc cải tạo hệ thống xử lý nƣớc thải ở cơ sở Nhị Xuân là rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt.
Nƣớc thải phải đƣợc thu gom và đƣa về trạm xử lý một cách triệt để, tránh tình trạng xả thằng ra ngoài môi trƣờng. Lý do chọn đề tài Ô nhiễm nguồn nƣớc do tác động của nƣớc thải từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất là vấn đề gây nhiều bức xúc hiện nay. Đề tài ― Thiết kế hệ thống xử lý nƣớc thải sinh hoạt cho cơ sở xã hội Nhị Xuân, 2000 ngƣời ‖ gắn liền với thực tế sử dụng và xả thải nƣớc trong sinh hoạt hằng ngày ở mỗi địa phƣơng cũng nhƣ các hộ dân cƣ, tiêu biểu ở đây là huyện Hóc Môn. Với ý nghĩa to lớn hƣớng tới một môi trƣờng xanh và sạch, nâng cao ý thức của ngƣời dân, đảm bảo an toàn vệ sinh khi sử dụng nƣớc trong sinh hoạt.
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của đề tài là thiết kế hệ thống xử lý nƣớc thải cho cơ sở xã hội Nhị Xuân, nhằm giải quyết vấn đề về môi trƣờng mà cơ sở sẽ mắc phải cũng nhƣ tuân thủ quy định của nhà nƣớc. Mục tiêu: + Tìm hiểu về dự án + Tìm hiểu về tính chất nƣớc thải tại cơ sở xã hội + Tìm hiểu về tiêu chuẩn nƣớc sinh hoạt + Nắm đƣợc các phƣơng pháp trong xử lý nƣớc thải + Đề xuất công nghệ xử lý Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu + Thành phần và tính chất nƣớc thải + Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc thải + Các công nghệ xử lý nƣớc thải sinh hoạt đang đƣợc áp dụng + Tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nƣớc thải, cụ thể là nƣớc thải sinh hoạt cơ sở xã hội Nhị Xuân. Phƣơng pháp thực hiện 17 do an Phƣơng pháp thu thập số liệu: thu thập các tài liệu về dự án, tìm hiểu thành phần, tính chất của nƣớc thải và các số liệu cần thiết khác. Phƣơng pháp so sánh: so sánh ƣu, nhƣợc điểm của công nghệ xử lý hiện có và đề xuất công nghệ xử lý phù hợp.
Phƣơng pháp trao đổi ý kiến: Trong quá trình thực hiện đề tài đã tham khảo ý kiến của giáo viên hƣớng dẫn về vấn đề có liên quan. Phƣơng pháp tính toán: sử dụng các công thức toán học để tính toán các công trình đơn vị trong hệ thống xử lý, dự toán chi phí xây dựng, vận hành, kiểm tra và bảo dƣỡng. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: tìm hiểu những kiến thức lý thuyết về công nghệ xử lý nƣớc thải qua những tài liệu chuyên ngành và các tài liệu khác có liên quan. Phƣơng pháp đồ họa: Dùng phần mềm Autocad để mô tả kiến trúc công nghệ xử lý nƣớc thải.
18 do an CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ XÃ HỘI NHỊ XUÂN 1. Giới thiệu chung Cơ sở xã hội Nhị Xuân thuộc xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn (gọi tắt là Cơ sở Nhị Xuân) cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 25km, cách Quốc lộ 22 về phía cầu An Hạ khoảng 4km, cách Tỉnh lộ 9 khoảng 2. Cơ sở là đơn vị trực thuộc lực lƣợng thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh, tiền thân là trung tâm giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm Nhị Xuân. Cơ sở đƣợc thành lập theo quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 14/3/1994 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Quy mô về diện tích và dân số Tổng diện tích đất xây dựng Cơ sở Nhị Xuân là 28ha. Cơ sở vật chất của cơ sở gồm 6 khu L, K, M, F, I và khu 500. Trong đó sức chứa của các khu L, K, M, F là 300 học viên, khu I 250, còn khu 500 có 350 học viên. Số lƣợng cán bộ trong cơ sở là 200 ngƣời.
Nhƣ vậy tổng cộng sức chứa của cơ sở là 2000 ngƣời. Trạm xử lý nƣớc thải Cơ sở Nhị Xuân từ ảnh chụp vệ tinh 19 do an Hình 1. Trạm xử lý nƣớc thải của Cơ sở Nhị Xuân trên bản vẽ + Diện tích phần cải tạo của trạm xử lý nƣớc thải: 165.6 m2 + Diện tích phần xây dựng của trạm xử lý nƣớc thải: 75 m2 + Tổng diện tích trạm xử lý nƣớc thải của Cơ sở xã hội Nhị Xuân: 240. Điều kiện khí hậu Cơ sở Nhị Xuân thuộc địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên cũng chịu ảnh hƣởng khí hậu chung của Thành phố Hồ Chí Minh.
Đặc điểm khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng nhƣ các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu - thời tiết Thành phố Hồ Chí Minh là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mƣa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trƣờng cảnh quan sâu sắc. + Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11 20 do an + Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tƣợng chủ yếu, cho thấy những đặc trƣng khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh nhƣ sau: 1. Nhiệt độ + Nhiệt độ không khí trung bình : 27oC + Nhiệt độ cao tuyệt đối : 40oC + Nhiệt độ thấp tuyệt đối : 13.8oC + Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28.8oC) + Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25.7oC) Hàng năm, có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 – 28oC.
Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao, đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trƣờng đô thị. Lƣợng mƣa + Lƣợng mƣa cao + Lƣợng mƣa trung bình năm : 1.949 mm + Lƣợng mƣa cao nhất : 2.718 mm (1908) + Lƣợng mƣa thấp nhất : 1.392 mm (1958) + Số ngày mƣa trung bình/năm : 159 ngày Khoảng 90% lƣợng mƣa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, trong đó hai tháng 6 và 9 thƣờng có lƣợng mƣa cao nhất. Các tháng 1, 2, 3 mƣa rất ít, lƣợng mƣa không đáng kể. Trên phạm vi không gian thành phố, lƣợng mƣa phân bố không đều, có khuynh hƣớng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc.
Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thƣờng có lƣợng mƣa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam. Chế độ gió Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hƣởng bởi hai hƣớng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió Tây - Tây Nam từ Ấn Ðộ Dƣơng thổi vào trong mùa mƣa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3.6 m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4. Gió Bắc - Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2.
Ngoài ra có gió Tín phong, hƣớng Nam - Ðông Nam, 21 do an khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3. Về cơ bản Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Bức xạ mặt trời Lƣợng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160 - 270 giờ.
Độ ẩm không khí Ðộ ẩm tƣơng đối của không khí bình quân/năm 79.5%; bình quân mùa mƣa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74.5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%.