Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC PHẦN QUANG HỌC VẬT LÍ 11 THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) 1. Khái niệm PISA PISA là bốn chữ cái viết tắt của cụm từ “The Programme for International Student Assesment”. Đây là “ Chương trình đánh giá học sinh quốc tế”, một chương trình do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới - Organization for Economic Cooperation and Development - OECD sáng lập và tổ chức thực hiện.
Học sinh tham gia PISA phải có độ tuổi từ 15 năm 3 tháng đến 16 năm 2 tháng, là lúc các em kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc ở hầu hết các trường phổ thông trên thế giới. Mục đích của PISA Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Song song với mục đích chung, chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau: - Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của HS ở độ tuổi 15, - Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của HS, - Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS, - Xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia và quốc tế, - Tham gia PISA là tham gia lâu dài, do đó, các quốc gia có thể thấy được sự phát triển giáo dục của quốc gia mình qua các chu kì đánh giá. Các năng lực được đánh giá của PISA PISA tập trung đánh giá ở ba năng lực: - Năng lực toán học phổ học thông: là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của skkn 5 kiến thức toán học trong cuộc sống; vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; là khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa, trao đổi thông tin hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau, trong đó chú trọng quy trình, kiến thức và hoạt động, - Năng lực đọc hiểu phổ thông: Định nghĩa về NL Đọc hiểu PISA như sau “Năng lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội”, - .Năng lực khoa học phổ thông: Theo mục đích của PISA, năng lực khoa học là của cá nhân về: + Kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức đó để xác định các câu hỏi, tiếp thu kiến thức mới, giải thích các hiện tượng khoa học và rút ra kết luận dựa trên bằng chứng về những vấn đề liên quan tới khoa học, + Sự hiểu biết về các đặc trưng của khoa học là một hình thức về tìm hiểu và tri thức nhân loại, + Sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan tới khoa học và các ý tưởng khoa học như một công dân có suy nghĩ.
Bên cạnh ba NL chính trên, bắt đầu từ chu kỳ 2006, PISA đưa vào đánh giá thêm một số NL mới: Kỹ năng GQVĐ (2006), NL tài chính (2009), NL sử dụng máy tính (2012), NL công dân toàn cầu (2018). Cấu trúc bài toán PISA Mỗi bài toán (Unit) trong đề thi của PISA có cấu trúc như sau: - Tiêu đề: là các tình huống thực tiễn, - Phần dẫn: là thông tin được đưa ra như một ngữ cảnh cho nhiều câu hỏi (Item). Cách trình bày phần dẫn khá phong phú như: văn bản, hình ảnh, hình vẽ, bảng biểu, biểu đồ, đồ thị…. Các kiểu câu hỏi trong PISA Bài toán trong đề thi PISA sử dụng các dạng câu hỏi sau: - Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn: HS lựa chọn một đáp án đúng duy nhất trong các đáp án đưa ra, skkn 6 - Câu hỏi Có - Không, Đúng - Sai phức hợp: HS phải đưa ra lựa chọn của mình trong một chuỗi các đáp án có dạng Có/Không hoặc Đúng/Sai, - Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời: Câu hỏi chỉ nhằm mục đích xác nhận thông tin, không có tính gợi mở, - Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn: HS viết câu trả lời ngắn hoặc đáp án tính toán số học vào chỗ dấu “….”, - Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài: HS viết câu trả lời dạng lập luận hoặc trình bày chi tiết lời giải.
Mã hóa trong PISA Các bài thi của PISA không được chấm điểm như các bài kiểm tra thông thường mà sử dụng mã hóa (coding), mỗi một mã của câu trả lời sẽ được quy ra điểm số (Score) tùy theo câu hỏi theo khung và thang đánh giá PISA của OECD. PISA quy định mã hóa cho hệ thống các câu hỏi như sau: * Các mã trong PISA: - Mã có một chữ số: 0, 1, 9 (nếu đánh giá ở 3 mức độ) hoặc 0, 1, 2, 9 (nếu đánh giá ở 4 mức độ), - Mã có hai chữ số: 00, 01, 11, 12, 21, 22, 99: * Các mức trả lời trong mã hóa: - Mức đầy đủ: nếu câu trả lời ngắn gọn, đầy đủ các ý trong đáp án + Mã 1 trong câu hỏi có mã 0, 1, 9 + Mã 2 trong câu có mã 0, 1, 2, 9 + Mã 21, 22 - Mức không đầy đủ: nếu câu trả lời chưa đầy đủ các yêu cầu của đáp án + Mã 1 trong câu có mã 0, 1, 2, 9 + Mã 11, 12 - Không đạt : + Mã 0: Câu trả lời của HS không đúng (sai) với đáp án + Mã 9: Học sinh bỏ giấy trắng không trả lời. Mục tiêu của dạy học và đánh giá trong chương trình giáo dục môn Vật lí 2018 1. Mục tiêu dạy học Theo CTGDPT môn Vật lí 2018, dạy học Vật lí có các mục tiêu sau: - Góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung skkn 7 được quy định trong CTGDPT tổng thể 2018, - Có vai trò chủ chốt trong việc hình thành và phát triển NL theo đặc thù môn học là năng lực khoa học hay NL vật lí cho HS.
Các thành phần của NL Vật lí được quy định ở CTGDPT môn Vật lí 2018 bao gồm: [I] Nhận thức vật lí Học sinh phải nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí, năng lượng và sóng, lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí. Có thể liệt kê các biểu hiện của năng lực này như sau: [I.1] Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí.2] Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ.3] Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học.4] So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau.5] Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình.6] Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận.7] Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. [II]Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí Học sinh tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận. Tiến trình thể hiện năng lực này bao gồm: [II.1] Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.2] Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu.3] Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu.4] Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các số lliệu; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và có sự điều chỉnh nếu cần thiết.5] Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: bằng cách sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá, góp ý của bạn; giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu của bản thân.6] Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp.
[III] Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Các biểu hiện cụ thể của năng lực này là: [III.1] Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn.2] Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn.3] Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới.4] Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.