Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Ở chương Một này, người viết sẽ trình bày giản lược về phương pháp dạy học theo dự án. Đồng thời người viết cũng nêu lên những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế một số dự án dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu ở nước ngoài Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhầm tạo ra các sản phẩm đạt, được những mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định.
Khái niệm dự án (Project) và phương pháp dạy học theo dự án (Project-base learning) đã xuất hiện từ rất lâu và ngày một phổ biến trong lĩnh vực dạy học và đào tạo từ phổ thông đến đại học ở các nước phát triển trên thế giới. Khổng Tử và Aristotle là những người đề xướng đầu tiên học bằng cách làm. Khổng Tử đã sử dụng các phương pháp giáo dục giúp người học vận dụng những hiểu biết vào cuộc sống, yêu cầu người học phải suy nghĩ và hỏi thật nhiều, kích thích sự ham hiểu biết của người học. Socrates, nhà triết gia Athen cổ, đã đưa ra mô hình làm thế nào để học hỏi thông qua việc đặt câu hỏi, điều tra, và tư duy phê phán - tất cả các chiến lược của mô hình vẫn rất phù hợp với dạy học theo dự án hiện nay.
Nguồn gốc của việc học tập dựa trên dự án kéo dài hơn một trăm năm, đến công trình của nhà giáo dục và triết học John Dewey (1959), ông đã thúc đẩy ý tưởng “học bằng cách làm”, nâng cao ý tưởng dạy và học thành một phương pháp được gọi là học tập dựa trên dự án. Dewey lập luận rằng học sinh sẽ phát triển khả năng cá nhân vào việc học nếu họ tham gia vào các nhiệm vụ và vấn đề thực sự, có ý nghĩa mô phỏng những gì các chuyên gia làm trong các tình huống thực tế. Ông đã chứng thực cho việc học tập dựa trên kinh nghiệm và sự quan tâm của học sinh. Ông đã thách thức quan điểm dạy học truyền thống: giáo viên là người truyền tải kiến thức, học sinh là người thu nhận kiến thức thụ động.
Ông chỉ ra rằng: “Giáo dục không phải là chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục là bản thân cuộc sống”. Dewey gắn liền với khái niệm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm. Cốt lõi triết lí giáo dục của ông là tầm quan trọng của việc hiểu những trải nghiệm của trẻ em. Trẻ em cần được giúp đỡ và Luan van 8 hướng dẫn trong việc học tập của mình để đạt được lợi ích tối đa.
Theo ông, chính những gì mỗi cá nhân rút ra từ trải nghiệm mới là quan trọng và trường học nên được xem là những cộng đồng. Ông ủng hộ quan điểm cho rằng nên coi giáo dục có một mục đích xã hội rộng lớn, tức là chuẩn bị cho trẻ trở thành những thành viên tích cực của xã hội và được đánh giá bởi chính xã hội ấy. Maria Montessori (1870 – 1952) là nhà trị liệu và nhà giáo dục người Ý, nổi tiếng với phương pháp giáo dục Montessori mang tên bà. Phương pháp Montessori được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới hiện nay.
Bà đã cho thấy qua ví dụ giáo dục sẽ xảy ra "không phải bằng cách lắng nghe những lời nói mà bằng những trải nghiệm về môi trường". Bác sĩ Ý và chuyên gia phát triển trẻ đã đi tiên phong trong việc học hỏi các môi trường để thúc đẩy các công dân có khả năng và thích nghi, là các nhà giải quyết vấn đề. Montessori đưa ra khái niệm Ngôi nhà trẻ em trong đó thầy giáo tạo ra môi trường mang lại những kích thích và là nơi trẻ em tự do phát triển việc học của chúng một cách tự nhiên và cá tính hóa. Nói cách khác, khái niệm sư phạm quan trọng trong phương pháp Montessori bao gồm: lấy đứa trẻ làm trung tâm, theo đứa trẻ, khuyến khích trẻ học tập một cách độc lập, thiết kế một môi trường học tập năng động và quan sát trẻ.
Sau đó, giáo viên với nghiệp vụ chuyên môn của mình sẽ hỗ trợ cho trẻ phát triển khả năng cá nhân với một lộ trình riêng cho từng trẻ. Về bản chất phương pháp này là tự thực hiện và tự quyết. Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý học về phát triển Thụy Sĩ, đã giúp người học hiểu cách họ tạo ra ý nghĩa từ những trải nghiệm của chính mình ở các lứa tuổi khác nhau. Những hiểu biết của ông đặt nền tảng cho cách tiếp cận xây dựng vào giáo dục, trong đó người học xây dựng dựa trên những gì họ biết bằng cách đặt câu hỏi, điều tra, tương tác với người khác và phản ánh những kinh nghiệm này.
Piaget phê phán quan điểm của thuyết hành vi – một trường phái tư duy theo các thuyết tập trình điều kiện hóa cổ điển và kết quả có sức mạnh áp đảo trong giáo dục trong gần 50 năm – nó chỉ khuyến khích trẻ em lặp lại những chuỗi vô nghĩa mà không nâng câo hiểu biết. Ông đề cao khám phá việc học thông qua chuỗi những hoạt động thực Luan van 9 tế hơn là những hành động lặp lại như thuyết hành vi. Piaget mô tả trẻ em như những nhà khoa học cô đơn để hết tâm trí vào việc học của mình. Thầy giáo là người tạo điều kiện thuận lợi trong học tập hơn là người rao giảng.
Và ông quan tâm đến quá trình hơn là sản phẩm. Lí thuyết của ông đưa ra là thuyết kiến tạo, lí thuyết đưa ra một trong những thuyết đầu tiên về sự nảy nở và phát triển tư duy của trẻ em và nó có tầm ảnh hưởng rộng lớn cho đến ngày nay. Cũng theo Piaget, giai đoạn trẻ từ 7 – 11 tuổi thuộc giai đoạn hoạt động cụ thể. Giai đoạn này các các qui tắc hoạt động tiến triển dần và có thứ tự khi các kĩ năng đơn giản được củng cố, kết hợp và tổ chức lại thành những cấu trúc ngày càng phức tạp.
Lúc này, trẻ có khả năng đảo ngược ý nghĩ của nó để giải quyết vấn đề, làm cho tư duy linh hoạt và hiệu quả hơn (Collete Gray and Macblain, Hiếu Tân dịch, 2014). Từ 1980 – 1990, các nhà giáo dục nhận ra học sinh chán học và ít có cơ hội học hỏi, ngay cả các học sinh giỏi cũng gặp vấn đề này. Và đó không phải là lỗi của học sinh mà có điều gì đó sai trong cấu trúc của việc học. Nếu có thể tìm cách để thu hút học sinh trong việc học tập, cơ cấu lại lớp học để học sinh có động lực học, đó sẽ là một thay đổi đáng kể.
Cũng vào khoảng năm 1990, các đánh giá mới của sinh viên đại học đã chỉ ra rằng kiến thức mà họ có được ở trường trung học vẫn ở mức độ bề ngoài. Ngay cả những sinh viên đạt điểm cao nhất, những sinh viên ở các trường đại học hàng đầu, thường không có được một sự hiểu biết sâu sắc hơn về khái niệm của tài liệu - dù trong khoa học, văn học hay toán học (Gardner, 1991). Các nhà giáo dục vẫn phải đối mặt với những vấn đề quan trọng này ngày nay. Các nhà khoa học cung cấp một giải pháp tiểm năng cho những vấn đề này, đó là học tập dựa trên dự án.
Các nghiên cứu của Marx và cộng sự (2004), Rivet & Krajcik (2004), William & Linn, (2003) đã chứng minh rằng học sinh trong các lớp học dựa trên dự án có điểm số cao hơn các học sinh trong các lớp học truyền thống (Joseph S. Krajcik and Phyllis C. Hiện nay, trên thế giới, có nhiều nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu về phương pháp dạy học dự án, vai trò của phương pháp này trong dạy học cũng như các bước thực hiện dự án nhưng các tập đoàn lớn về công nghệ như Intel, Microsoft… mới là những người có công trong việc phổ biến khái niệm phương pháp dự án và tạo điều Luan van 10 kiện ứng dụng nó rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Từ năm 1999, chương trình Dạy học của Intel đã bồi dưỡng cho giáo viên của hơn 35 nước trên thế giới (Intel Education, 2006).
Phương pháp giáo dục theo dự án của Intel được sử dụng ở trường trung học giúp việc phát triển khái niệm đào tạo theo định hướng học sinh. Công nghệ máy tính không còn là nội dung học tập trong quá trình đào tạo, mà chỉ như một công cụ phổ biến cho việc học. Điều này giúp tạo ra sự nhiệt tình, thích thú của học sinh để học hỏi, về cơ bản thay đổi mô hình đào tạo học sinh trong quá khứ cho giáo viên để đáp ứng các thông tin giáo dục. Trong quá trình đào tạo, giáo viên được yêu cầu đặt nền tảng của công nghệ thông tin vào học sinh và xem xét làm thế nào để sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình học tập.
Do đó, trong nhiều hoạt động sáng tạo, giáo viên được yêu cầu đóng vai trò của học sinh, tạo ra các ví dụ về các tác phẩm điện tử cho học sinh (được gọi là các tác phẩm của học sinh, như các bài trình bày đa phương tiện, bản tin điện tử và các trang web) và các mẫu công cụ hỗ trợ học tập nghiên cứu của học sinh. Trong bài viết Project-Based Learning của Joseph S. Krajcik and Phyllis C. Blumenfeld (2006), có đề cập đến học tập theo dự án là một hình thức học tập tại chỗ và dựa trên kết quả của việc xây dựng kiến trúc, sinh viên hiểu rõ hơn về tài liệu khi họ tích cực xây dựng hiểu biết của mình bằng cách làm việc và sử dụng ý tưởng.
Trong học tập theo dự án, người học tham gia vào các vấn đề thực sự, có ý nghĩa quan trọng đối với họ và tương tự như những gì các nhà khoa học, nhà toán học, nhà văn và những người đồng nghiệp làm. Một lớp học theo dự án cho phép người học điều tra các câu hỏi, đưa ra các giả thuyết và giải thích, thảo luận về ý tưởng của mình, thách thức các ý kiến của người khác và thử những ý tưởng mới. Nghiên cứu đã chứng minh rằng học sinh trong các lớp học theo dự án có điểm số cao hơn so với học sinh trong các lớp học có điều kiện truyền thống. Học tập theo dự án là một cách tiếp cận tổng thể để thiết kế môi trường học tập dựa trên dự án đã có các tính năng chính.
Shannon Dauphin (2015) cho rằng học tập theo dự án là học sinh học tốt nhất bằng cách giải quyết các vấn đề thực tế.