CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Hoạt động học tập Trong quá trình dạy học, sự tương tác giữa GV và HS chủ yếu diễn ra thông qua các HĐ cụ thể. Việc làm đó không chỉ tác động đến mặt nhận thức của trẻ mà còn rèn luyện cho HS những KN cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ, yêu cầu đưa ra.
Nhấn mạnh đến tính chủ thể, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng HĐ học tập chính là quá trình trẻ chủ động tiếp cận các nguồn tri thức, phát triển các kênh thông tin theo hướng nắm rõ bản chất và VD vào thực tiễn cuộc sống của bản thân [20]. Đây chính là HĐ cơ bản của con người, có tính mục đích, tự giác chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện KN, kĩ xảo mới và điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với MT thực tế [22]. Ngoài ra, để mỗi HĐ học tập diễn ra thực sự đạt hiệu quả cần chú trọng đến việc hướng dẫn HS PP, cách thức tự học, phát hiện và giải quyết được vấn đề theo nhiều góc độ đa chiều nhằm đáp ứng những đòi hỏi khác nhau trong từng trường hợp cụ thể, từng bước tự hình thành và phát triển NL cho người học [13]. Việc thay đổi các HĐ học tập không chỉ giúp HS tiếp nhận KT chủ động hơn mà còn tác động đến ý thức, thái độ.
HS tạo được động cơ học tập hứng thú, tích cực trong quá trình tham gia các HĐ đa dạng. Qua đó, HS có thể “thích nghi” và cải thiện chất lượng cuộc sống từ những kinh nghiệm được tích lũy trong nhà trường và xã hội. Nói tóm lại, HĐ học tập có thể hiểu là HĐ được tổ chức trong MT học tập, trong đó GV là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển; HS trực tiếp HĐ, tương tác với các đối tượng học tập một cách chủ động, tích cực để chiếm lĩnh KT, hình thành phẩm chất và phát triển những NL cần thiết. Năng lực Hiện nay, quan niệm về NL được nhìn nhận và phân tích trong nhiều mối quan hệ tác động và nhìn nhận ở các phương diện khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt NL được hiểu “là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một HĐ nào đó; phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một HĐ nào đó với chất lượng cao” [22]. Phân tích đến khả năng hành động và tác động đến tình cảm, từ điển tâm lý học cho rằng “NL là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng HĐ nhất định” [8]. 12 NL phản ánh thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân đối với mỗi tình huống trong thực tế nhưng không phải diễn ra tại một thời điểm mà là cả một quá trình rèn luyện kiên trì, liên tục tích lũy vốn kinh nghiệm sống của bản thân [4]. Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn quan niệm, NL là “khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [26].
Đề cập đến NL trong HĐ dạy học, chương trình GDPT tổng thể đã nêu ra quan niệm về NL “là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập các KT, KN, các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại HĐ nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3]. Từ những quan điểm nêu trên, NL có thể được hiểu là khả năng thực hiện thành công HĐ trong hoàn cảnh nhất định nhờ vào quá trình phân tích, tổng hợp các tri thức, KN để GQVĐ trong cuộc sống. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương “NLVDKT, KN đã học là khả năng người học sử dụng những KT, KN đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. NLVDKT, KN đã học thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình HĐ để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” [21].
Nhóm tác giả Phan Thị Thanh Hội – Nguyễn Thị Tuyết Mai cho rằng: “NLVDKT, KN đã học là mức độ nhận thức cao nhất trong quá trình học tập của con người, do đó, dạy học ở nhà trường phổ thông không chỉ tập trung vào hình thành và phát triển KT cho người học mà quan trọng hơn là HS cần vận dụng được các KT, KN đã học” [14]. Như vậy, NLVDKT, KN đã học là khả năng người học VD vốn hiểu biết đã học trên lớp hoặc thông qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả. NLVDKT, KN đã học thể hiện phẩm chất, hành vi của con người trong quá trình HĐ để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức. Dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Quá trình phát triển NLVDKT, KN đã học xuất phát từ việc HS biết ghi nhớ, nắm vững KT đã học; phát hiện vấn đề thực tiễn, bước đầu chỉ ra được mâu thuẫn, đặt các câu hỏi cho vấn đề liên quan.
Đồng thời, HS biết huy động được các KT, kinh nghiệm đã có để phân tích, làm rõ được ND hay một tình huống, bài tập thực tế. Kết nối hệ thống các KT liên quan, thiết lập mối quan hệ giữa KT đã học và KT cần tìm hiểu với thực tiễn về các vấn đề tự nhiên, xã hội xung quanh. Từ đó, đề xuất một số phương án tìm tòi, khám phá KT để chứng minh [9]. DHPTNL VDKT, KN đã học cung cấp cho HS cơ hội được tham gia trải nghiệm, kết nối KT với thực tiễn xung quanh.
Tạo điều kiện cho HS khai thác vốn sống, vốn hiểu biết của bản thân; khuyến khích trẻ trao đổi, thảo luận với nhau về các quan sát, dữ liệu thu thập được từ đối tượng nghiên cứu, để đề xuất các giả thuyết, xây dựng các kế hoạch hành động. Từ đó, giúp HS phát triển tư duy phản biện, sáng tạo, rèn luyện KN làm việc nhóm, NL GQVĐ,…[10]. Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu việc phát triển NLVDKT, KN đã học của HS không chỉ thể hiện thông qua các HĐ phù hợp mà còn phụ thuộc vào quá trình liên kết các vấn đề về mục tiêu hướng tới của bài học, ND HS cần chiếm lĩnh, PPDH, HTTC cũng như cách thức đánh giá. Tính thống nhất và tương tác hỗ trợ giữa các yếu tố đảm bảo cho NL mỗi bản thân được bộc lộ và phát triển có tính bền vững khi giải quyết các tình huống khác nhau trong thực tiễn.
Một số vấn đề cơ bản về dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong dạy học môn Khoa học cho học sinh lớp 4 1. Yêu cầu về dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong dạy học môn Khoa học cho học sinh lớp 4 Môn Khoa học hình thành và phát triển ở HS NL khoa học tự nhiên, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học tự nhiên; tìm hiểu MT tự nhiên xung quanh; VDKT, KN đã học. Những biểu hiện của NLVDKT, KN đã học trong môn Khoa học được trình bày như sau [4]: Giải thích được một số sự vật, hiện tượng và mối quan hệ trong tự nhiên, về thế giới sinh vật, bao gồm con người và các biện pháp giữ gìn sức khoẻ. Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đơn giản trong đó VDKT khoa học và KT, KN từ các môn học khác có liên quan.
14 Phân tích tình huống, từ đó đưa ra được cách ứng xử phù hợp trong một số tình huống có liên quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng và MT tự nhiên xung quanh; trao đổi, chia sẻ, vận động những người xung quanh cùng thực hiện. Nhận xét, đánh giá được phương án giải quyết và cách ứng xử trong các tình huống gắn với đời sống. Như vậy, khi DHPTNL VDKT, KN đã học trong dạy học môn Khoa học cho HS lớp 4 cần tổ chức các HĐ giúp HS được trình bày hiểu biết, so sánh, phân loại các sự vật, hiện tượng đã học; liên hệ, VDKT đã học để giải thích sự vật, hiện tượng tự nhiên xung quanh. Tạo cơ hội để HS được đề xuất những câu hỏi và phát hiện vấn đề khi quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh hoặc khi tiến hành giải quyết tình huống nhằm kết nối tri thức với thực tiễn một cách hiệu quả 1.
Các tiêu chí về dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong dạy học môn Khoa học cho học sinh lớp 4 DHPTNL VDKT, KN đã học không phải là một chuỗi các HĐ theo quy trình cứng nhắc mà có thể được thay đổi và sử dụng linh hoạt phụ thuộc vào mức độ nhận thức và NL của HS. * Cơ sở khoa học của việc xây dựng các tiêu chí của NLVDKT, KN đã học trong môn Khoa học lớp 4 - Hệ thống hóa một số nghiên cứu, tài liệu lí luận liên quan như: + Một số nghiên cứu về vấn đề đánh giá NLVDKT, KN đã học trong dạy học [9], [10], [11], [14]. + Một số văn bản, chính sách quy định trong nước: Chương trình GD môn Khoa học ban hành kèm thông tư số 32 của Bộ GD và ĐT ban hành ngày 26/12/2018 xác định môn Khoa học hình thành và phát triển ở HS NL khoa học, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học tự nhiên; tìm hiểu MT tự nhiên xung quanh; VDKT, KN đã học. Đồng thời, làm rõ những biểu hiện của NLVDKT, KN đã học bao gồm: Giải thích được một số sự vật, hiện tượng và mối quan hệ trong tự nhiên, về thế giới sinh vật, bao gồm con người và các biện pháp giữ gìn sức khoẻ.
Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đơn giản trong đó VDKT khoa học và KT, KN từ các môn học khác có liên quan.