Chương IL: Thực trạng của việc tích hợp nội dung phat triển bền vững trong dạy học môn khoa học lớp 4 Chương III: Thiết kế và thực nghiệm kế hoạch bài dạy tích hợp nội dung phát triển bền vững trong dạy học chủ dé “Sinh vật va môi trường” thuộc môn Khoa học lớp 4 CHUONG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CUA DAY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC PHÁT TRIEN BEN VUNG CHỦ DE SINH VAT VÀ MOI TRƯỜNG TRONG MON KHOA HOC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thé giới.
đã có rất nhiều nghiên cứu về các thuật ngữ học thuật vẻ định nghĩa của PTBV. Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem phát triển là sự tăng giảm vẻ lượng của sự vật. hiện tượng, điển ra liên tục. không phức tạp.
không có sự thay đổi vẻ chất. Theo Todaro và Smith (2006), phát triển là quá trình đa chiều về những thay đổi các khía cạnh như cấu trúc, thái độ và thê chế xã hội, tăng trưởng kinh tế, giảm bat bình đăng và xóa đói giảm nghèo. Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự “phat triển” chỉ là sự tăng, giảm thuần túV về lượng. không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiền lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp (Todaro & Smith, 2006) Một trong những báo cáo về giáo dục vì sự PTBV tại New Zealand của Wellington đã giải thích tinh bền vững có thể hiểu như một đích đến hay như một hành trình, đây là một nhiệm vụ liên tục nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người và môi trường xung quanh mà không phá hủy hay làm ảnh hưởng đến các hệ thống hỗ trợ cuộc sông ma con người phụ thuộc.
Theo Brodhag & Taliere, tính bền vững của môi trường liên quan đến tính toàn vẹn của hệ sinh thái và khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên. Điều đó nghĩa là nguồn tài nguyên không được khai thác nhanh hơn khả năng tái tạo của nó (Brodhag & Taliere, 2006). thực tế trên thế giới cho thấy những vấn đẻ liên quan trực tiếp đến môi trường đang ngày càng trở nên mắt kiểm soát với những chuyên biến và dau hiệu rõ rệt, đáng ké nhất là biến đôi khí hậu — xảy ra do tự nhiên hoặc đo tác động của con người, hay hiện tượng nóng lên toàn cầu, băng tan ở đại đương, nước biên dâng cao,. Theo mô tả trong các tình hình và xu hướng trong GEO4, sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên đang đe dọa cuộc sống của con người, đặc biệt là những người nghèo va dé bị tôn thương.
Thuật ngữ PTBV xuất hiện lần đầu tiên tại ấn phâm “Chiến lược bảo tồn thế giới" (1980) của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên. An phẩm nảy đề cập đến nội dung liên quan đến mục tiêu của PTBV là “đạt được sự PTBV bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật”. Tại đây, thuật ngữ PTBV được đè cập với phạm vi 12 hẹp. chỉ nhân mạnh tính bên vững của sự phát triển về mặt sinh thái nhằm mục đích kêu gọi bảo tồn các tài nguyên sinh vật (IUCN - International Union for Conservation of Nat, 1980).
Trong tài liệu Báo cáo năm 1987 của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) với tên gọi “Tuong lai của chúng ta” (Brundtland Report, 1987), báo cáo còn có tên gọi khác là Báo cáo Brundtand, PTBV dược định nghĩa là "sự phát triển đáp ứng được nhu cau của hiện tại mà không làm tổn thương kha năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thé hệ tương lai”. cũng từ đây thuật ngữ “PTB V” bat dau trở nên phô biến. Theo Tổ chức ngân hang phát triển Châu A (ADB): *PTBV là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. PTBV cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta dap ứng các nhu cầu của thé hệ trong tương lai” (Asian Development Bank, 2021).
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thé giới về PTBV tô chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002: PTBV được định nghĩa là quá trình phát trién có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hòa giữa các mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (tăng trưởng kinh tế), phát trién xã hội (tiên bộ. công bang xã hội: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xứ lý, khắc phục 6 nhiễm; phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường: phòng chống cháy và chặt phá rừng: khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) (James D. Tại Thập ki của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững (ESD), UNESCO đã hợp tác cùng tập đoàn Samsung dé khởi động dự án “Sang kiến ESD” tại Việt Nam vào năm 2013. Dự án có nội dung là xây dựng môi trường thuận lợi dé thực hiện PTBV, đưa ra những giải pháp dé đối mặt với các thách thức mang tính toàn cầu.
Ngoài ra, GV còn được tập huấn về cách sử dung công nghệ thông tin, truyền thông và học tập trực tuyến dé tham gia khóa học về nội dung giảm thiểu rui ro thảm họa. bảo tồn đa dang sinh học va GDPTBV (Advancing sustainable development, World Bank and Agenda 21, United States of America, 1997) (United States of America, 1997). Năm 2017, những văn ban chính thức về PTBV bat đầu được ra đời. Nhìn chung, các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có là hữu hạn, trong khi đân số toàn thé giới không ngừng tăng trưởng.
Chính vì vậy, PTBV là một khái niệm liên quan đến các nguyên tắc đáp ứng các mục tiêu phát triển của con người đồng thời đuy trì khả năng của các hệ 13 thống tự nhiên trong việc cung cấp tài nguyên thiên nhiên và các dịch vụ sinh thái mà nên kinh tế và xã hội phụ thuộc vào đó. UNESCO (1997) Educating for a Sustainable Future, đã có phát biêu: việc tiếp cận với giáo dục thật sự chính là điều kiện tiền quyết cho sự tham gia tích cực vào cuộc sông của thé giới hiện đại ở mọi cấp độ. Giáo dục không phải là câu trả lời cho mọi van dé nhưng là phan chủ chốt trong mọi nỗ lực nhằm xây dựng và kiến tạo những mỗi quan hệ mới giữa con người với con người và thúc đây mạnh mẽ các yêu cầu bảo vệ môi trường (UNESCO, Educating for a Sustainable Future, 1997). Trong 17 mục tiêu PTBV, giáo dục chất lượng là mục tiêu thứ 4: “Dam bảo nên giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đây các cơ hội học tập suốt đời cho tat cả mọi người”, có 8 mục tiêu cụ thể, GDPTBV là một trong các mục tiêu cụ thé: “Đến năm 2030, dam bao rang tất cả những người đi học đều thu được kiến thức và các kỹ năng can thiết dé thúc đây PTBV, bằng cách thông qua giáo dục về PTBV va lỗi sống bên vững, vẻ nhân quyền, bình đăng giới, thúc day một nền văn hóa hòa bình va không bao lực.
công dân toàn cầu và đánh giá cao sự đa dạng về văn hóa và đóng góp của văn hóa đối với PTBV” (United Nations General Assembly (UNGA), 2015). “Giáo dục vi sự PTBV”, “giáo dục vì sự bên vững”, va “giao dục vi tương lai bên vững" là những thuật ngữ có thé thay thể nhau, mặc dù một số t6 chức vẫn phân biệt riêng. Việc không có một thuật ngữ cô định là dau hiệu cho thấy giáo dục này còn tương đối mới với tư duy giáo dục hiện nay. Sự đa dang về thuật ngữ nên được coi là tiến triển tích cực vì điều này có nghĩa rằng trường học, cao đăng, đại học, các hệ thống giáo dục, GV.
hay bat cứ ai liên quan déu có thé tự do phát triển khái niệm của mình cho phù hợp với ưu tiên và nhu cau địa phương (wikipedia. Giáo dục có thê đảm bảo cho mọi công dân từ trẻ em đến người già đều có kiến thức về những thay đôi cần thiết, có khả năng xây dựng tâm nhìn về các tương lai, có cam kết thực hiện dân chủ va các kĩ năng cần thiết, có động lực dé hành động tích cực. Đó chính là Giáo dục vì sự PTBV (UNESCO, Giáo dục vì sự phát triển bền vững hướng đến xã hội bên vững, 2017). (1996) cho biết một trường học không thé trở thành “xanh” chỉ bởi việc bảo tồn năng lượng, thu nhặt pin hay phân loại rác.
Điều chủ chốt là những điều HS học được khi tham gia những hoạt động như vậy. Ông tin rằng giáo dục là một trong những chiến lược xã hội can thiết dé giúp thay đỗi xã hội, có những đặc trưng riêng biệt 14 là được thiết kế dé phát trién năng lực con người dé tham gia vào các chiến lược khác (Schnack, K, 1996). Theo Second Nature, giáo dục vì sự PTBV là quá trình hoc tập suốt đời hướng tới việc công dân có kiến thức và trách nhiệm, có khả năng giải quyết van dé một cách sáng tạo, có hiệu biết về khoa học và xã hội: và có cam kết thực hiện các hành động cá nhân và hợp tác có trách nhiệm. Những hành động này sẽ dam bảo một tương lai có kinh tế thịnh vượng và môi trường trong lành.
Giáo đục vì sự bền vững cũng có tiềm năng trở thành một công cụ đề kết nói tốt hơn giữa trường học và doanh nghiệp. giữa nhà trường và cộng đồng Trong báo cáo Towards a Green Future, giáo dục vì sự PTBV được định nghĩa như sau: Việc giải quyết van dé môi trường và ngăn ngừa vấn dé mới không xảy ra sẽ đòi hỏi sự hiểu biết và đánh giá đúng mỗi liên kết giữa lợi ích môi trường và phúc lợi con người. Tuy nhiên không dễ nhìn thấy nhiều sự liên kết ngay lập tức. Đây là nơi giáo dục có vai trò quan trọng.
Làm cho con người quan tâm đến môi trường và phát triển, làm cho con người hiểu mối liên kết giữa môi trường và phát triển. khuyến khích con người đưa ra hành động hợp lí, và trang bị các kĩ năng thiết thực dé hành động — giáo dục là cần thiết đề thực hiện tất cả những mục tiêu này (Kalyani Kandula, 2020). Tô chức dạy học tích hợp nội dung GDPTBV đã và đang được vận dụng ở các nước trên thế giới. Ở các nước tiên tiến như: Anh, Ha Lan, Mỹ.đã đưa nội dung GDPTBV vào chương trình học ở mọi cấp học khoảng từ năm 2000.
Việc đưa GDPTBV vào chương trình học không chi bó hẹp trong phạm vi bài giảng của một tiết học mà còn được thực hiện băng hình thức dự án tiễn hành song song với phân môn đang học.